Đang online: 26
Hôm nay: 163
Trong tuần: 1694
Trong tháng: 11475
Tổng truy cập: 262176
  • SỞ CÔNG THƯƠNG: Cùng tuyên truyền, hỗ trợ kết nối tiêu thụ thanh long, dưa hấu Bình Thuận
    SỞ CÔNG THƯƠNG: Cùng tuyên truyền, hỗ trợ kết nối tiêu thụ thanh long, dưa hấu Bình Thuận
    20/01/2022 09:50
    SỞ CÔNG THƯƠNG: Cùng tuyên truyền, hỗ trợ kết nối tiêu thụ thanh long, dưa hấu Bình Thuận Nhằm đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền về kết nối tiêu thụ thanh long, dưa hấu của Bình Thuận. Thực hiện Chỉ thị số 14/CT-BCT ngày 29/12/2021 của Bộ Công Thương về việc tăng cường hỗ trợ tiêu thụ nông sản tại thị trường trong nước nhằm giảm áp lực cho thị trường xuất khẩu trong bối cảnh dịch Covid-19 diễn biến phức tạp và Công văn số 141/VP-KT ngày 11/01/2022 của UBND tỉnh Bình Thuận về việc triển khai thực hiện Công văn số 58/VPCP-KTTH ngày 03/01/2022 của Văn phòng Chính phủ Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Bình Thuận có sản phẩm thanh long và dưa hấu đang vào vụ mùa thu hoạch với sản lượng lớn, dự kiến thu hoạch trong quý I/2022 (tập trung chính vào thời điểm Tết Nguyên đán Nhâm Dần và rằm tháng Giêng năm 2022), cụ thể: - Diện tích cho thu hoạch từ nay đến tháng 3/2022 khoảng 19.350 ha (khoảng 30%) tổng diện tích thanh long hiện có, sản lượng khoảng 236.780 tấn tập trung vào 03 mốc thời gian chính: từ ngày 15 – 30/1/2022, dự báo sản lượng khoảng 106.551 tấn từ ngày 09 - 14/2/2022, dự báo sản lượng khoảng 59.195 tấn từ ngày 10 - 20/3/2022, dự báo sản lượng khoảng 71.034 tấn. - Diện tích trồng dưa hấu trên địa bàn tỉnh khoảng 255 ha (tập trung ở các huyện Hàm Thuận Bắc, Hàm Thuận Nam và Đức Linh). Trong đó diện tích sản xuất ở huyện Đức Linh khoảng 132 ha chiếm hơn 50% diện tích trồng dưa hấu cả tỉnh. Thời gian thu hoạch dưa hấu chủ yếu tập trung bán Tết Nguyên đán 2022, sản lượng dự kiến 300 tấn, thời gian thu hoạch rộ ngày 26-27/01/2022. Để tăng cường các hoạt động xúc tiến thương mại, nhằm hỗ trợ cho các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh sản phẩm nông sản trên địa bàn tỉnh Bình Thuận kết nối tiêu thụ sản phẩm, đẩy mạnh tìm kiếm đối tác, mở rộng thị trường trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 hiện nay, hoạt động xuất nhập khẩu qua các cửa khẩu, lối mở biên giới các tỉnh phía Bắc liên tục gặp khó khăn Sở Công Thương Bình Thuận cung cấp thông tin chi tiết liên hệ của các doanh nghiệp, Hợp tác xã kinh doanh sản phẩm thanh long, dưa hấu của tỉnh Bình Thuận để Sở Công Thương các tỉnh, thành phố hỗ trợ tuyên truyền đến các doanh nghiệp, cơ sở phân phối, siêu thị, trung tâm thương mại trên địa bàn tỉnh, thành phố được biết, liên hệ trực tiếp với các doanh nghiệp, Hợp tác xã của tỉnh Bình Thuận để kết nối, thống nhất phương án vận chuyển, cung ứng hàng hóa theo nhu cầu của từng đơn vị. * Sở Công Thương Bình Thuận kính đề nghị Cục Xuất nhập khẩu quan tâm, hỗ trợ một số nội dung sau: 1. Tiếp tục tổ chức các hoạt động xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường xuất khẩu, hạn chế phụ thuộc vào một thị trường. Hiện nay, thanh long Bình Thuận được đăng ký bảo hộ chỉ dẫn địa lý tại nhiều nước trên thế giới (gần đây là tại Nhật Bản), đây là lợi thế cạnh tranh cho thanh long Bình Thuận đến với các thị trường này. Vì vậy, đề nghị Cục Xuất nhập khẩu lựa chọn, giới thiệu các doanh nghiệp nhập khẩu, kinh doanh phân phối tại nước ngoài để các doanh nghiệp xuất khẩu thanh long của tỉnh tiến hành liên hệ kết nối, đưa sản phẩm thanh long vào thị trường này. 2. Hỗ trợ doanh nghiệp tham gia các chương trình Xúc tiến thương mại, hội chợ triển lãm chuyên ngành thực phẩm tại các nước tham gia trưng bày quảng bá, giới thiệu sản phẩm thanh long Bình Thuận (Thanh long sấy, kẹo thanh long, snack thanh long, nước ép thanh long…) cùng với các tài liệu giới thiệu, quảng bá về địa phương, doanh nghiệp và sản phẩm thanh long Bình Thuận trong gian hàng Việt Nam tham gia Hội chợ thương mại quốc tế tại các thị trường. 3. Tiếp tục cung cấp thông tin về tình hình thị trường, giá cả, chính sách pháp luật, rào cản kỹ thuật trong thương mại, các khuyến cáo từ khâu trồng trọt, xử lý, bảo quản, vận chuyển và xuất khẩu để đảm bảo giữ được độ tươi ngon và chất lượng sản phẩm cũng như kinh nghiệm phát triển thị trường nhằm giúp các Hiệp hội ngành hàng, doanh nghiệp của tỉnh Bình Thuận tìm được đối tác để phát triển, mở rộng thị trường và đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu. 4. Có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp đẩy mạnh xuất khẩu chính ngạch, nhất là trong giai đoạn bị ảnh hưởng bị dịch bệnh Covid -19, các cửa khẩu biên giới phía Bắc tạm dừng thông quan. * Sở Công Thương Bình Thuận kính đề nghị Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số quan tâm, hỗ trợ một số nội dung sau: 1. Thông tin đến các doanh nghiệp có sàn thương mại điện tử như các sàn thương mại điện tử Alibaba, Amazon, TiKi, Sendo, Lazada,... để các doanh nghiệp nắm bắt thông tin các sản phẩm, sản lượng để hỗ trợ các doanh nghiệp Binh Thuận tham gia kinh doanh sản phẩm nông sản trên sàn thương mại điện tử. 2. Triển khai đến các đơn vị thương mại điện tử của ngành công thương hướng dẫn các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh tham gia trên các gian hàng trực tuyến mở các chuyên mục, chương trinh kết nối sản phẩm nông sản các tỉnh để các doanh nghiệp kết nối, tiêu thụ và từng bước hướng dẫn các đơn vị sản xuất kinh doanh tự chủ trong các hoạt động thương mại điện tử. * Sở Công Thương Bình Thuận kính đề nghị Cục Xúc tiến thương mại quan tâm, hỗ trợ một số nội dung sau: 1. Đẩy mạnh tuyên truyền, kết nối quảng bá, xúc tiến tiêu thụ sản phẩm nông sản trên địa bàn tỉnh Bình Thuận. Đề nghị các Công ty, siêu thị, trung tâm thương mại, chợ đầu mối... quan tâm, hỗ trợ tiêu thụ, chế biến sản phẩm nông sản, đưa vào tiêu thụ tại các khu công nghiệp, khu chế xuất ở các tỉnh, thành phố lớn. Đảm bảo liên kết thu mua, chế biến theo tiêu chuẩn của đơn vị, không ép giá và thúc đẩy liên kết lâu dài, nhất là sản phẩm thanh long Bình Thuận. 2. Tiếp tục tổ chức các hoạt động xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường xuất khẩu nông sản. Hiện nay, thanh long Bình Thuận được đăng ký bảo hộ chỉ dẫn địa lý tạ nhiều nước trên thế giới (gần đây là tại Nhật Bản), đây là lợi thế cạnh tranh cho thanh long Bình Thuận đến với các thị trường này. Vì vậy, đề nghị Cục Xúc tiến thương mại lựa chọn, giới thiệu các doanh nghiệp nhập khẩu, kinh doanh phân phối tại nước ngoài để các doanh nghiệp xuất khẩu thanh long của tỉnh tiến hành liên hệ kết nối, đưa sản phẩm thanh long vào thị trường này. 3. Hỗ trợ doanh nghiệp tham gia các chương trình Xúc tiến thương mại, hội chợ triển lãm chuyên ngành thực phẩm tại các nước tham gia trưng bày quảng bá, giới thiệu sản phẩm thanh long Bình Thuận (Thanh long sấy, kẹo thanh long, snack thanh long, nước ép thanh long…) cùng với các tài liệu giới thiệu, quảng bá về địa phương, doanh nghiệp và sản phẩm thanh long Bình Thuận trong gian hàng Việt Nam tham gia Hội chợ thương mại quốc tế tại các thị trường. * Sở Công Thương Bình Thuận kính đề nghị Vụ Thị trường trong nước quan tâm, hỗ trợ tỉnh Bình Thuận một số nội dung sau: 1. Đẩy mạnh các hoạt động kết nối cung cầu, mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản tỉnh Bình Thuận tại thị trường trong nước thông qua các hoạt động xúc tiến thương mại, kết nối cung cầu giữa các tỉnh, thành phố, hưởng ứng cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”. 2. Đề nghị các đơn vị phân phối như: Công ty, siêu thị, trung tâm thương mại, chợ đầu mối... quan tâm, hỗ trợ tiêu thụ, chế biến sản phẩm nông sản, đưa vào tiêu thụ tại các khu công nghiệp, khu chế xuất ở các tỉnh, thành phố lớn. Đảm bảo liên kết thu mua, chế biến theo tiêu chuẩn của đơn vị, không ép giá và thúc đẩy liên kết lâu dài, đặc biệt là sản phẩm thanh long Bình Thuận. 3. Tăng cường xúc tiến thương mại, tiêu thụ hàng hóa trên các kênh online, sàn thương mại điện tử, hỗ trợ doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh sản phẩm nông sản tỉnh Bình Thuận tham gia các Chương trình: ngày mua sắm trực tuyến Gian hàng Việt trực tuyến quốc gia… Sở Công Thương Bình Thuận rất mong nhận được sự quan tâm, hỗ trợ của Sở Công Thương các tỉnh, thành phố. Quá trình triển khai thực hiện có khó khăn, vướng mắc, đề nghị Sở Công Thương các tỉnh, thành phố, các doanh nghiệp phản hồi về đầu mối liên hệ hỗ trợ tiêu thụ nông sản tại tỉnh Bình Thuận để phối hợp giải quyết: * Sở Công Thương Bình Thuận: ông Trần Văn Khanh - Trưởng phòng Quản lý thương mại. Điện thoại: 0901 231 043. * Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bình Thuận: ông Nguyễn Bộ – Phó trưởng phòng Quản lý chất lượng, Chi cục Quản lý chất lượng nông, lâm và thủy sản. Điện thoại: 0909 250 461. * Hiệp hội thanh long Bình Thuận: ông Võ Huy Hoàng – Chủ tịch Hiệp hội. Điện thoại: 0913 932 446./. THÔNG TIN CHI TIẾT LIÊN HỆ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP, HỢP TÁC XÃ CÓ NHU CẦU KẾT NỐI TIÊU THỤ THANH LONG, DƯA HẤU CỦA TỈNH BÌNH THUẬN 1. Thanh long S TT Địa bàn Thời gian thu hoạch Sản lượng (tấn) Cơ sở có nhu cầu kết nối Đầu mối liên hệ 1 Huyện Hàm Thuận Nam Tháng 01 - 03/2022 85.000 Trang trại Kim Hải Phạm Văn Long, số điện thoại: 0903 827 433 HTX Hàm Minh 30 Lê Phương Chi số điện thoại: 0338 718 341 Công ty TNHH Trinh Anh Trịnh Anh Hào số điện thoại: 0965 990 202 Công ty TNHH Bé Dung Đỗ Văn Dũng, số điện thoại: 0913 649 906 25.000 Công ty TNHH XNK YUEALIMEI LIU, FUZHONG, số điện thoại: 0941 159 797 2.100 Công ty TNHH Sơn Thủy Trần Văn Sơn, số điện thoại: 0913932 573 1.900 Công ty TNHH XNK Cao Thành Phát Nguyễn Công Kính, số điện thoại: 0984 300 509 1.300 Công ty TNHH Thanh long Thành Đạt Nguyễn Văn Thêm, số điện thoại: 0913 932 231 1.600 Công ty TNHH thanh long Hoàng Hậu Trần Ngọc Hiệp, số điện thoại: 3898616 1.600 Công ty TNHH thanh long Gia Việt Nguyễn Thị Thanh Bình, số điện thoại: 0987963472 700 Công ty TNHH Sơn Trà Huỳnh Cảnh, số điện thoại: 0982869338 3.600 Các doanh nghiệp nhỏ khác trên địa bàn huyện Hàm Thuận Nam 2 Thành phố Phan Thiết Tháng 01 - 03/2022 80 Xã Phong Nẫm, TP. Phan Thiết Lâm Minh Châu, số điện thoại: 0367783063 1.200 Xã Tiến Lợi, TP. Phan Thiết Trần Ngọc Khoa, số điện thoại: 0948 741 417 5.000 Xã Tiến Thành HTX thanh long Tiến Thành, số điện thoại 0987 079 450 (Được) HTX DVSX nông nghiệp hữu cơ Tiến Thành số điện thoại 0868281740 (Lộc) Chủ tịch Hội Nông dân Tiến Thành, số điện thoại 0933 055 720 (Tuấn) 3 Huyện Hàm Thuận Bắc Tháng 01 - 03/2022 320 HTX Hòa Lệ Đỗ Thanh Hiệp, số điện thoại: 0914674064 240 HTX Phú Thịnh Hàm Phú Nguyễn Minh Hoàng, số điện thoại: 0988 944724 130 HTX thanh long Hàm Phú Nguyễn Thành Trung, số điện thoại: 0962863 045 110 HTX DVNN Thuận Minh Trần Hữu Nghị, số điện thoại: 0949901568 1.340 HTX DVNN Hữu cơ Hiệp Phát Trần Văn Hiệp, số điện thoại: 0914674 064 380 HTX thanh long Phú Hội Ngô Xuân Hiền, số điện thoại: 0919071088 330 HTX thanh long an toàn Hàm Đức Nguyễn Văn Đặng, số điện thoại: 0336 655 866 55 HTX DVNN Thuận Hòa Nguyễn Văn Thường, số điện thoại: 0359 434 276 50 HTX DVNN thanh long hữu cơ Suối Đá Trần Xuân Hoặc, số điện thoại: 0919 061 463 4 Huyện Tuy Phong Tháng 01 - 03/2022 100 HTX KD-DV thanh long Phong Phú Lâm Trần Thanh Sang, số điện thoại: 0914 530 339 110 HTX KD-DV thanh long Chí Công Nguyễn Xuân Vũ, số điện thoại: 098 921 5281 2. Dưa hấu S TT Địa bàn Thời gian thu hoạch Sản lượng (tấn) Cơ sở có nhu cầu kết nối Đầu mối liên hệ 1 Dưa hấu Ngày 26- 27/01/2022 300 Thị trấn Võ Xu – huyện Đức Linh Cán bộ nông nghiệp Thị trấn Võ Xu, anh Nguyễn Công Lập, số điện thoại: 0332 913 450 Đỗ Thị Lý
  • HIỆU QUẢ CHƯƠNG TRÌNH KHUYẾN NÔNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ SỐ
    HIỆU QUẢ CHƯƠNG TRÌNH KHUYẾN NÔNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ SỐ
    31/12/2021 18:16
    HIỆU QUẢ CHƯƠNG TRÌNH KHUYẾN NÔNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ SỐ Theo Quyết định 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tướng chính phủ về phê duyệt “Chương trình chuyển đổi số Quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”, nông nghiệp là 1 trong 8 lĩnh vực được ưu tiên thực hiện chuyển đổi số. Xác định chuyển đổi số nông nghiệp là yêu cầu tất yếu khách quan, là trách nhiệm trong chuyển giao tiến bộ khoa học công nghệ cho dân, là phương thức để thực hiện mục tiêu phát triển nông nghiệp thông minh, nông thôn hiện đại, làm tăng năng suất, hiệu quả các chương trình khuyến nông. Trong những năm qua, Trung tâm Khuyến nông Bình Thuận đã tích cực triển khai các chương trình khuyến nông ứng dụng công nghệ số. Trong đó một số chương trình bước đầu phát huy hiệu quả. Nhật ký điện tử: Nhật ký sản xuất là một trong những yếu tố cần thiết để đáp ứng sản xuất theo hướng an toàn (VietGAP, GlobalGAP, organic,…). Hiện nay tại Bình Thuận nông dân đã và đang triển khai truy xuất nguồn gốc thông qua nhật ký trên các thiết bị điện tử, thay thế phương pháp truy xuất ghi chép sổ sách truyền thống nhằm rút ngắn thời gian ghi chép, truy xuất và đảm bảo độ lưu trữ lâu dài, hạn chế tình trạng thất lạc thông tin. Vừa qua, Trung tâm Khuyến nông đã phối hợp với Công ty CP công nghệ Xelex triển khai phần mềm nhật ký điện tử đến các hợp tác xã (HTX), hộ sản xuất tại 03 huyện trồng thanh long trọng điểm: Hàm Thuận Nam, Hàm Thuận Bắc, Bắc Bình. Phần mềm bao gồm 12 biểu mẫu viết trên máy tính bảng đã giúp bà con rút ngắn thời gian, thuận tiện trong việc viết nhật ký, đáp ứng đầy đủ các thông tin cần truy xuất. Tiếp tục phát triển nhật ký điện tử trong những lĩnh vục khác, năm 2022 Trung tâm Khuyến nông đã đăng ký triển khai mô hình ứng dụng hệ thống nhật ký điện tử trong khai thác, bảo quản hải sản trên tàu khai thác hải sản xa bờ. Tập huấn cho nông dân ghi nhật ký điện tử Cấp mã tem QR code: Cùng với việc áp dụng các quy trình sản xuất thanh long an toàn (VietGAP, GlobalGAP), đăng ký mã số vùng trồng thì việc đáp ứng truy xuất ngồn gốc sản phẩm thông qua dán tem QR code đã giúp các HTX tăng cơ hội tiếp cận với khách hàng và mở rộng xuất khẩu thanh long sang các thị trường khó tính như Châu Âu với giá tốt hơn, tăng giá trị sản phẩm và lợi nhuận. Trung tâm Khuyến nông đã hỗ trợ được 730.000 tem cho 4 HTX sản xuất thanh long (HTX thanh long Bắc Bình, HTX thanh long Bắc Bình Thuận, HTX thanh long Ruột đỏ Chí Công và HTX Thuận Tiến). Các phần mềm quản trị vườn trồng: Một số doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp thông minh, chính xác đã áp dụng các phần mềm quản trị vườn trồng nhằm tối ưu hóa việc sử dụng tài nguyên (nước, phân bón…) để dần chuyển đổi từ nông nghiệp truyền thống sang nông nghiệp hiện đại, tạo ra nhiều cơ hội tăng năng suất lao động, giảm phụ thuộc vào điều kiện môi trường, thời tiết, kiểm soát dịch bệnh tốt hơn. Thương mại điện tử: Nằm trong chuỗi các hoạt động của chương trình “Phát triển thương mại điện tử bền vững giai đoạn 2019-2025”, được sự hỗ trợ kinh phí từ Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP), Trung tâm Khuyến nông đã phối hợp với Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam (VECOM) triển khai thí điểm nhiều hoạt động thúc đẩy thương mại điện tử như: Đào tạo tập huấn, giúp các hợp tác xã thanh long Bình Thuận làm quen và tiếp cận hướng kinh doanh mới trên môi trường trực tuyến giúp các HTX sản xuất nông nghiệp xây dựng, đăng ký những tên miền internet để xác lập việc quản lý, sản xuất, kinh doanh. Chương trình đã giúp người sản xuất kết nối trực tiếp, đưa nông sản lên sàn giao dịch, chuyển trực tiếp tới tay người tiêu dùng mà không qua khâu trung gian. Kiểm tra máy cho tôm ăn tự động có gắn cảm biến Chuyển đổi công nghệ số, tự động hóa nuôi trồng và khai thác thủy sản cũng được quan tâm. Trong các trang trại nuôi tôm, người dân đã ứng dụng công nghệ xử lý nước tuần hoàn, công nghệ nuôi bán biofloc, công nghệ tự động hóa cho tôm ăn bằng máy có cảm biến được Trung tâm chuyển giao đang ứng dụng rộng rải. Toàn tỉnh có trên 50 máy cho tôm ăn tự động. Các mô hình đã giúp giảm chi phí sản xuất, đảm bảo chất lượng sản phẩm. Chuyển đổi số cũng được ứng dụng mạnh mẽ với việc sử dụng thiết bị dò cá sử dụng sóng siêu âm hệ thống định vị toàn cầu (GPS), điện thoại vệ tinh và số tàu có chiều dài trên 15m gắn thiết bị giám sát hành trình đạt 1.830 tàu/1898 tàu thuộc diện bắt buộc gắn thiết bị (đạt 96,4%) giúp quản lý đội tàu khai thác hải sản xa bờ thuận lợi. Mặc dù đã đạt được một số kết quả trong ứng dụng công nghệ số, song quá trình triển khai chuyển đổi số còn nhiều khó khăn, thách thức. Nhận thức và kỹ năng sử dụng thiết bị thông minh của người dân còn hạn chế đầu tư cho nông nghiệp thông minh và công nghệ cao hơn rất nhiều so với nông nghiệp truyền thống nên phần lớn người dân không đủ điều kiện để đầu tư. Ứng dụng công nghệ số vào sản xuất, phân phối nông sản thực phẩm đang trở thành xu thế tất yếu. Trung tâm Khuyến nông sẽ tiếp tục đồng hành cùng nông dân, ngư dân ứng dụng công nghệ số vào sản xuất, chuyển đổi từ nông nghiệp truyền thống sang nông nghiệp hiện đại./. BBT (Phạm Kim Thành)
  • TÍN HIỆU VUI XUẤT KHẨU THANH LONG TẠI CỬA KHẨU LÀO CAI
    TÍN HIỆU VUI XUẤT KHẨU THANH LONG TẠI CỬA KHẨU LÀO CAI
    31/12/2021 17:56
    TÍN HIỆU VUI XUẤT KHẨU THANH LONG TẠI CỬA KHẨU LÀO CAI Theo nguồn tin Ban Biên tập nhận được (Báo Thanh Niên), Cửa khẩu đường bộ quốc tế số 2 Kim Thành (Việt Nam) - cửa khẩu Bắc Sơn (Trung Quốc) đã thông thương trở lại gần 100 xe chở nông sản ùn tắc ở Lào Cai đã được làm thủ tục xuất khẩu sang Trung Quốc ngày 30/12/2021. Đến chiều tối ngày 30.12, trong khu vực Cửa khẩu đường bộ quốc tế số 2 Kim Thành đã không còn xe hàng xuất khẩu ùn tắc như những ngày trước đây. Theo thông tin từ Chi cục Hải quan cửa khẩu Lào Cai, thống kê từ chiều 29.12 đến trưa ngày 30.12 đã có 252 xe chở hàng xuất, nhập khẩu qua Cửa khẩu quốc tế đường bộ số 2 Kim Thành. Trong đó, xe hàng nhập khẩu về từ Trung Quốc là 155 xe chủ yếu là máy móc thiết bị, nông sản, phân bón… và xe hàng xuất khẩu từ Việt Nam sang Trung Quốc là 97 xe chủ yếu là ván bóc, tinh bột sắn và một số loại hoa quả. Theo Chi cục Hải quan cửa khẩu Lào Cai, ngay sau khi Cửa khẩu quốc tế đường bộ số 2 Kim Thành thông thương trở lại với cửa khẩu Bắc Sơn (Trung Quốc). Đơn vị này đã bố trí cán bộ làm thêm giờ, hỗ trợ tối đa các doanh nghiệp, cá nhân giải quyết các thủ tục thông quan, xuất khẩu hàng hóa nhanh nhất có thể để giải phóng hàng và đến nay đã không còn hàng hóa xuất khẩu tồn đọng trong khu vực cửa khẩu. Nhiều vườn thanh long chín rộ mong chờ “tín hiệu thông quan” từ các cửa khẩu phía Bắc Trước đó ngày 27.12, cơ quan chức năng phía cửa khẩu Bắc Sơn (Trung Quốc) bất ngờ có thông báo đến các doanh nghiệp sẽ tạm dừng hoạt động thông quan để triển khai các biện pháp phòng dịch Covid-19. Trong 2 ngày sau đó, khu vực Cửa khẩu quốc tế đường bộ số 2 Kim Thành xuất hiện tình trạng ùn ứ hàng chục xe chở nông sản và hàng hóa xuất khẩu. Không biết khi nào Trung Quốc mở lại cửa khẩu, một số xe chở nông sản đã dỡ hàng bán tại Lào Cai hoặc quay đầu đưa về tiêu thụ ở thị trường nội địa. Mặc dù lượng hàng hóa thông quan chưa nhiều, tuy nhiên việc “bất ngờ mở cửa trở lại” từ phía Trung Quốc như một tín hiệu vui cho khoảng 5000 xe hàng đang chờ thông quan tại các cửa khẩu, trong đó có nhiều xe hàng chở thanh long Bình Thuận chúng ta. Ban biên tập Website Khuyến nông Bình Thuận sẽ tiếp tục cập nhật tình hình thông quan tại các cửa khẩu phía Bắc, gửi đến Quý bạn đọc sớm nhất./. Công Bá
  • CHĂM SÓC CÂY BƯỞI CHO VƯỜN CỦA BẠN
    CHĂM SÓC CÂY BƯỞI CHO VƯỜN CỦA BẠN
    31/12/2021 17:39
    CHĂM SÓC CÂY BƯỞI CHO VƯỜN CỦA BẠN Khi dịp tết nguyên đán 2022 đã cận kề, cũng là khi nhu cầu về quả bưởi tăng cao, thị trường bưởi được sự báo “sốt” nhất dịp cuối năm tuy vậy, để khai thác quả bưởi trúng vụ và đúng kỹ thuật nhằm giữ sức cho cây bưởi thì không phải người dân trồng bưởi nào cũng thực hiện tốt. Ban biên tập xin gửi đến Quý bà con một số kinh nghiệm trồng bưởi cho năng suất, chất lượng. 1. Đất trồng: Tầng canh tác dầy ít nhất là 0,6 m và thành phần cơ giới nhẹ hoặc trung bình. Đất tơi xốp, thông thoáng, thoát nước tốt, pH nước từ 5,5 - 7, có hàm lượng hữu cơ cao > 3%, không bị nhiễm mặn, mực nước ngầm thấp dưới 0,8m. 2. Giống bưởi: Da xanh Năm roi Lông Cổ Cò Đường Da Láng. 3.Tiêu chuẩn cây giống tốt: Cây được ghép ghép mắt. +Gốc ghép: Giống bưởi làm gốc ghép Lông Cổ Cò. Cây gieo từ hạt sạch bệnh. Thân thẳng và cổ rễ thẳng, đường kính gốc ghép từ 0,8 – 1,2 cm. +Cành ghép: Thẳng, vững chắc, thân phải tròn, không mang các vết thương cơ giới nghiêm trọng sâu đến phần lõi gỗ. +Vị trí ghép: cách mặt bầu ươm 20 - 30 cm. Mối ghép đã hàn gắn, liền sẹo tốt. +Nên có 2 tầng lá. Khi trồng tất cả lá đều già và thuần thục là tốt nhất. Lá: Xanh tốt, có kích thước, hình dạng đặc trưng của giống, số lá hiện diện đầy đủ. Bộ rễ phát triển tốt có nhiều rễ tơ. Cây giống đồng đều, khỏe mạnh ³ 95%. +Sâu bệnh: Không có triệu chứng của các bệnh: loét, ghẻ, chảy mủ và các loại sâu hại: thán thư, nhện, bọ trĩ, sâu vẽ bùa, rệp sáp. 4. Khoảng cách trồng: 6 x 6 m hoặc 7 x 7 m (đất xấu trồng dày, đất tốt trồng thưa) 5. Đào mương lên liếp: Giữa 2 hàng bưởi cần có mương rộng 0,5m sâu khoảng 0,3-0,4m. Giữa 2 mương là líp trồng cây. Mương này nối với mương chính ở cuối vườn để thoát nước tốt trong mùa mưa. Ngoài giúp thoát nước, mương còn giúp để ngăn chặn chảy tràn bề mặt làm lây lan bệnh và tuyến trùng trong vườn giúp tạo khô hạn xử lý ra hoa nghịch vụ. 6. Trồng cây chắn gió: Nếu vườn có diện tích lớn thì nên chia thành từng lô nhỏ (3-5ha) và chọn cây có độ cao hợp lý, chắc gỗ, khó đổ ngã để trồng quanh vườn và đường phân lô làm cây chắn gió. Có thể chọn tràm để làm cây chắn gió cho vườn bưởi. Cây chắn gió nên trồng trước khi trồng bưởi khoảng 1-3 năm. 7. Tưới nước: -Đảm bảo chu kỳ tưới 3 lần/ tuần trong thời gian vắng mưa và mùa khô. Lượng nước tưới 120-150 lít/ cây/ lần. Trước khi ra hoa, cây cần thời gian khô hạn khoảng 30 ngày để thuần thục phân hóa mầm hoa. -Khi mưa nhiều gây ngập úng thì cần phá bờ bồn để thoát nước cho cây, tránh làm đọng nước trong gốc cây. 8. Làm cỏ, tủ gốc: -Nên cắt cỏ toàn vườn hàng tháng trong mùa mưa, trong bồn nên làm cỏ bằng tay hàng tháng, đặc biệt là trước mỗi đợt bón phân. -Hạn chế sử dụng thuốc diệt cỏ, không được sử dụng thuốc diệt cỏ dạng lưu dẫn trong bồn cây. -Sử dụng rơm, vỏ bắp sau khi tuốt bằng máy, trấu mục hoặc cỏ khô phủ kín bồn cây một lớp dầy 10-20 cm, cách gốc 10-20 cm. Gốc bưởi khô ráo sẽ làm giảm cơ hội cho nấm bệnh tấn công vào gốc. 9. Thời vụ trồng chuẩn bị hố trồng và cách trồng -Trồng vào đầu mùa mưa từ tháng 6-7 dương lịch. Sau khi phóng cọc, đào hố có kích thước 1m x 1m, sâu 0,7m. Cho vào hố 10-20 kg phân hữu cơ hoai, 1 kg phân super lân, 0,5 kg vôi và 200g phân DAP trộn đều với đất mặt cho 2/3 hỗn hợp vào hố. -Dùng dao cắt dọc hai bên bầu nilon, bóc bầu nilon sao cho bầu đất sau khi bóc vẫn còn nguyên vẹn, không bị vỡ bầu đất. Đặt bầu cây giống có hướng mắt ghép hướng về đầu gió để tránh bị tách cành ghép mặt bầu cao hơn mặt đất 10cm, cào hỗn hợp phân và đất vào cho ngập bầu cây giống. Cắm cọc cột dây để tránh đổ ngã và tưới nước. Rải 1 muỗng Basudin 10H vào gốc cây bưởi để chống mối. -Trong thời kỳ KTCB nên trồng hoa màu để tránh đất bị xói mòn, tăng thu nhập: Đậu phộng là giải pháp tốt nhất. 10. Phân bón Lượng phân tùy thuộc vào nhiều yếu tố như loại đất, thành phần dinh dưỡng trong đất, giống cây, tuổi cây, mật độ, năng suất vụ trước. Sau đây là công thức tham khảo: Bảng 1: Liều lượng bón phân cho cây bưởi ở thời kỳ kiến thiết cơ bản Phân bón Năm Liều lượng (g/cây/năm) Phân đạm Urê Phân lân Super lân Phân kali KCl 1 2 3 110-200 220-330 330-540 120-240 300-420 480-600 30-60 80-150 160-230 Bảng 2: Bảng khuyến cáo bón phân dựa vào năng suất thu hoạch của vụ quả trước (kg quả /cây) Phân bón Năng suất Thu hoạch vụ trước Liều lượng (g/cây/năm) Phân đạm Urê Phân lân Super lân Phân kali KCl 20kg/cây/năm 650 910 380 40kg/cây/năm 1080 1520 630 60kg/cây/năm 1300 1820 700 90kg/cây/năm 1740 2420 1000 120kg/cây/năm 2170 3030 1250 150kg/cây/năm 2600 3640 1500 -Thời kỳ kiến thiết cơ bản (cây 1-3 năm tuổi), phân bón được chia làm 4-6 đợt. Sau khi trồng nên dùng phân Urê hoặc phân DAP với liều lượng 40gr hòa cho tan trong 10 lít nước để tưới cho một gốc bưởi (2tháng/lần), có thể sử dụng phân tôm, phân cá ủ để tưới cho cây bưởi. Khi cây trên 1 năm tuổi cần bón phân gốc để giúp cho cây phát triển mạnh. -Thời kỳ kinh doanh trên cây bưởi có thể chia làm bốn lần như sau: 1/ Sau thu hoạch bón: 25% đạm + 25% lân + 5-20 kg hữu cơ/gốc/năm. 2/ Bốn tuần trước khi cây ra hoa bón: 25% đạm + 50% lân + 30% kali. 3/ Sau khi quả đậu và giai đoạn quả phát triển bón: 50% đạm + 25% lân + 50% kali. 4/ Một tháng trước thu hoạch bón : 20% kali. Giai đoạn quả phát triển, lượng phân nên cung cấp làm nhiều lần và tùy theo mức độ đậu quả và sự phát triển của quả. Hằng năm nên bón bổ sung từ 0,5-1kg phân Ca(NO3 )2 để cải thiện phẩm chất và thời gian tồn trữ sau thu hoạch của quả. Hiện nay trên thị trường đã có bán các loại phân bón vô cơ chuyên dùng cho cây ăn quả rất thuận lợi cho nhà vườn sử dụng. Nên dùng phân bón có TE để cung cấp đầy đủ vi lượng cho cây. Tùy tuổi cây, tình trạng sinh trưởng, lượng quả đã thu hoạch của năm trước mà liều lượng phân bón gia giảm. 11. Xử lý ra hoa -Bưởi ra hoa cần thời gian khô hạn để phân hóa mầm hoa, vì vậy ở các vườn quản lý được nước thì có thể tạo sự khô hạn để bưởi ra hoa đồng loạt. Để thu hoạch vào Tết âm lịch (nhằm bán giá cao) thì nên tạo khô hạn vào khoảng tháng 4-5. DL với thời gian tạo khô hạn khoảng 30-45 ngày, sau đó tưới trở lại để cây ra hoa vào khoảng đầu tháng 6 DL. -Sau khi thu hoạch xong tiến hành vệ sinh vườn như: cắt tỉa cành già, cành sâu bệnh, làm cỏ, quét vôi gốc... rồi bón phân với liều lượng tùy thuộc vào sự sinh trưởng và tuổi cây. -Đến giữa tháng 4DL thì ngưng tưới khoảng 30 ngày. Khi ngưng tưới có thể dùng các loại phân bón lá như: MKP(0- 52- 34) Growmore 6-30-30 phun lên cây để giúp lá non mau thành thục. Kết hợp tuốt lá trên cành chân chim (hay còn gọi cành nhánh nhện). -Sau đó tưới mỗi ngày một lần. Kết hợp phun F94 Growmore 10-60-10 để kích thích ra hoa. 7-15 ngày sau khi tưới đợt đầu tiên cây sẽ ra hoa, thời gian này ngày tưới ngày nghỉ. 10-15 ngày sau khi cây trổ hoa sẽ rụng cánh hoa (đậu quả). 12. Neo trái: Đến thời điểm thu hoạch mà giá bưởi hạ thì có thể neo quả được trên cây từ 15-30 ngày nữa để chờ giá xuất bán, bằng cách phun lên cây các loại phân bón lá như: Retain, ProGiff...Tuy nhiên, Không nên neo trái quá lâu trên cây sẽ ảnh hưởng khả năng ra hoa ở vụ sau và tuổi thọ của cây bưởi bị giảm. 13. Tạo tán: -Sau khi trồng cần phun Atonik (2 tuần/ lần) cho cây đâm tược non. Khi chồi non dài 30cm thì bấm ngọn cho cây tạo tiếp chồi non thứ cấp. -Đến khi cây cho được cành cấp 4 thì ngưng bấm ngọn và để cây phát triển cành một cách tự nhiên. 14. Tỉa cành: Hàng năm, sau khi thu hoạch cần phải loại bỏ những loại cành đã mang quả ở vụ trước (thường rất ngắn khoảng 10- 15 cm) cành bị sâu bệnh, cành yếu, cành đan chéo nhau, những cành vượt trong thời gian cây đang mang quả nhằm hạn chế việc cạnh tranh dinh dưỡng với quả. Bấm ngọn khoảng 30% cành để tạo cành chân chim nhằm tạo quả cho vụ sau. 15. Phòng trừ sâu bệnh Sâu vẽ bùa (Phyllocnistis citrella): Phun thuốc khi cây bắt đầu nhú chồi và sau đó 7 ngày: Vibamec 1.8EC Saliphos 35 EC Shezol 205EC Confidor dầu khoáng DC-Tron Plus SK End spray. Rầy chổng cánh (Diaphorina citri): Điều khiển cây ra đọt tập trung. Dùng bẫy màu vàng để phát hiện rầy trong vườn, trồng cây chắn gió để hạn chế rầy từ nơi khác xâm nhập vào, chú ý vào các đợt ra đọt non của cây, sử dụng các loại thuốc như: Butyl 10WP 25g/ 8lít, Bascide 50EC, Actara 25 WG 1g/8 lít, Applaud 10WP 10-15g/ 8 lít. Rầy mềm (Toxoptera citricidus): Rầy mềm thường trong giai đoạn ra đọt non của cây nên chú ý phòng trị trong giai đoạn nầy bằng các loại thuốc như: Lancer 75 WP 15- 20g/8lít, Butyl 10 WP 25g/ 8lít, Actara 25 WG 1g/ 8 lít, Applaud 10WP 10-15g/ 8 lít, Trebon 10-20ml/ 8lít, Basa 50ND 20ml/8lít. Sâu hồng đục vỏ quả (Citripestis sagittiferella Moore): Phòng trị bằng cách vệ sinh vườn, tiêu hủy quả bị nhiễm sâu. Dùng thuốc Alpha-Cypermethrin và Deltamethrin có pha dầu khoáng DC Tron Plus hoặc từng loại riêng lẻ để phun xịt luân phiên dùng 2 loại nầy để sâu, bướm không kháng thuốc. Dùng Long não để xua đuổi. Nhóm Nhện: Phát hiện sớm khi vừa đậu trái và phun các loại thuốc trừ nhện cho đến khi trái lớn như: Comite 73 EC 5-10ml/8lít, Sulox 80 WP 50g/8lít, Kumulus 80DF 10-20g/8lít, Pegasus 500DD 10 ml/ 8 lít, Ortus 10-15 ml/ 8 lít, Dầu DC-Tron plus 50ml/ 8 lít, Comite ... Bù lạch: Khi hoa vừa rụng cánh và khi thấy có triệu chứng đầu tiên trên trái, tiến hành phun các loại thuốc như: Vectimec, Fenbis 25 EC 30-35cc/8lít, Malate 73 EC 25-30cc/8lít, Regent, Trebon, Confidor, ... theo khuyến cáo. Nhóm rệp sáp: Khi phát hiện dùng thuốc có hoạt chất Dimethoate như: (Fenbis 25 EC Fentox 25 EC Cyfitox 300 EC) Thuốc có hoạt chất Imidacloprid (Saimida 100 SL Imiprid 10WP Conphai 15WP) Thuốc có hoạt chất Cypermerin (Serpal supper Sairifos 585EC) Dầu khoáng SK End Pray Thuốc có hoạt chất Chlorpyriphos (Pyrifdaaic 250EC Cocyfos 550EC). Bệnh Tristeza: Trồng giống sạch bệnh và tích cực phòng trừ các loại rầy mềm bằng các loại thuốc trừ sâu đã khuyến cáo vào các đợt ra đọt non, lá non để tránh lan truyền mầm bệnh. Bệnh vàng lá Greening (do vi khuẩn Liberobacter asiaticus): Loại bỏ cây đã nhiễm bệnh để tiêu hủy mầm bệnh, tránh chiết, tháp và lấy mắt trên các cây nghi ngờ có mầm bệnh Khử trùng sau mỗi lần sử dụng các dụng cụ cắt tỉa Trồng giống sạch bệnh và nên cách ly với vùng nhiễm bệnh, vườn trồng phải có cây chắn gió để hạn chế rầy chổng cánh di chuyển từ nơi khác tới Phun thuốc trừ rầy chổng cánh vào các đợt ra lá non. Bệnh loét (do vi khuẩn Xanthomonas campestris pv. citri): Nên chọn cây sạch bệnh để trồng, tỉa bỏ các cành lá bị bệnh mang đi nơi khác và đốt để diệt mầm bệnh, tỉa cành tạo tán cho cây thông thoáng. Dùng các loại thuốc có gốc đồng phun vào giai đoạn lá non như: Avalon 8WP Copperzine Kasuran 47WP Kasumin 2L Isacop 65.2WG Cocide COC-85. Bệnh ghẻ (do nấm Elsinoe fawcetii ): Phun các loại thuốc phòng ngừa bệnh như: Carbenzim 500 FL, Thio-M 500 SC, Benomyl, Copperzine, COC-85 trước khi ra lá mới, lúc hoa vừa rụng cánh, sau đậu trái. Bệnh thối gốc chảy nhựa (do nấm Phytophthora spp.): Khi trong vườn có cây bị bệnh, ta dùng dao cạo bỏ phần vỏ bị nhiễm và dùng thuốc Ridomyl pha với liều lượng 20 g/ lít nước, bôi thuốc lên chỗ đã cạo. Trong giai đoạn cây cho trái cần phun thuốc ngừa để tránh bệnh xâm nhiễm (Ridomyl, Matalaxyl, Aliette, Agrifos 400). Bệnh thối rễ do nấm (Fusarium solani, Phythopthora palmivora và Pythium helicoides): Phòng trị bằng cách đầu mùa mưa nên bón vôi bột 1-2kg/ cây thoát úng cho cây trong mùa mưa. Những cây có triệu chứng bệnh thì tưới gốc gồm một trong các loại Ridomil Matalaxyl Anvil. Thối rễ do tuyến trùng (Pratylenchus spp. Tylenchulus semipenetrans): Phòng trừ bằng cách bón phân đạm vừa phải Tăng cường kali và phân chuồng hoai Thoát nước tốt. Có thể dùng các loại thuốc Vifu-super Tervigo Vifuran Map Logic Agpycap NoKaph. Duy Lâm & Đỗ Lý
  • Nông dân Bình Thuận tiên phong trồng lúa hữu cơ
    Nông dân Bình Thuận tiên phong trồng lúa hữu cơ
    31/12/2021 17:33
    Nông dân Bình Thuận tiên phong trồng lúa hữu cơ Huyện Tánh Linh, một trong 5 vựa lúa gạo lớn của tỉnh Bình Thuận. Hàng năm huyện sản xuất trên 100 nghìn tấn gạo và những mặt hàng nông sản khác. Một trong những nông dân trồng lúa giỏi, làm ra thứ gạo hữu cơ ai cũng muốn mua đó là ông Nguyễn Anh Đức, Giám đốc HTX Đức Bình. Theo HTX Đức Bình, trước đây mọi người trồng lúa theo cách cũ, suốt ngày vất vả nhưng thu nhập không tốt. Đã thế còn bị độc hại, ảnh hưởng sức khỏe do phải sử dụng thuốc trừ sâu quá nhiều. Từ năm 2016, sau khi Trung tâm Khuyến nông tỉnh xây dựng mô hình cánh đồng mẫu lớn, áp dụng cơ giới hóa vào sản xuất mô hình canh tác lúa hướng hữu cơ, lúa SRI, gia đình ông nghe theo hướng dẫn của huyện Tánh Linh chuyển sang trồng lúa hữu cơ một năm 2 vụ trên diện tích hơn 10ha, đến nay đã cho thu nhập khá hơn nhiều. Điều mà ông thấy quý nhất trồng lúa hữu cơ, làm gạo hữu cơ là sức khỏe của ông và cộng đồng được bảo vệ tốt hơn. Theo lời ông Đức, làm lúa hữu cơ lợi nhiều hơn cách làm cũ. Hiện tại gia đình ông mỗi tháng đóng gói và giao khoảng 10 tấn gạo hữu cơ cho khách hàng trong tỉnh và cả TP.HCM. Mỗi bịch 5kg, có logo Gạo Tánh Linh trên bao bì với các giống lúa ST 25… ông bán giá khoảng 140.000 đồng trở lại. "Nhờ trồng lúa hữu cơ và sau khi trừ hết chi phí, gia đình tôi thu nhập trung bình từ 500 đến 700 triệu đồng/năm…", ông Đức tâm sự. Theo Sở Khoa học & CN Bình Thuận, sản phẩm gạo hữu cơ của HTX Đức Bình đã được Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) cấp giấy chứng nhận "Gạo Đức Lan" nằm trong thương hiệu, chỉ dẫn địa lý Gạo Tánh Linh. Nông dân Nguyễn Anh Đức năm 2020 được đại diện cho tỉnh Bình Thuận ra Hà Nội dự Lễ tôn vinh và trao danh hiệu 63 "Nông dân Việt Nam xuất sắc 2020". Theo lãnh đạo Trung tâm Kỹ thuật Dịch vụ huyện Tánh Linh, để có được uy tín Gạo Tánh Linh như hôm nay, gần cả chục năm qua, các chuyên viên của huyện, liên tục khăn gói đi các tỉnh miền Tây, học hỏi các chuyên gia ở Viện lúa ĐBSCL rồi về áp dụng, hướng dẫn lại bà con nông dân... Lãnh đạo Phòng Nông nghiệp huyện Tánh Linh cho biết, hơn 10 năm trước, trên địa bàn có khoảng 11.000 ha đất trồng lúa nằm ở vùng thung lũng sông La Ngà. Các cơ quan chức năng xác định, đây là vùng trọng điểm lương thực của tỉnh Bình Thuận. Trong đó lúa gạo là sản phẩm chủ lực trong chương trình Tái cơ cấu nông nghiệp của huyện Tánh Linh. Hiện nay, Tánh Linh ghi nhận ban đầu chỉ 3 HTX và 3 Tổ hợp tác chuyên sản xuất giống lúa với diện tích khoảng 50 ha/vụ (chỉ sản xuất 2 vụ lúa giống/năm) tham gia. Đến nay nhãn hiệu Gạo Tánh Linh đến nay đã có một số đơn vị trên địa bàn sử dụng, đóng bao sản phẩm theo hướng hữu cơ với số lượng khoảng 1000 tấn/năm như gạo Đức Lan, Đức Phú, Nghị Đức, Đức Bình… Lúa sản xuất theo hướng hữu cơ của HTX Đức Bình tập kết về nhà máy xay xát năm 2020. Ảnh: Công Bá Năm 2021, với mô hình hỗ trợ máy ép chân không từ Trung tâm Khuyến nông tỉnh, HTX Đức Bình đã chủ động để xay xát và đóng gói sản phẩm đạt tiêu chuẩn chất lượng hơn, trong niềm vui thắng lợi, Chủ nhiệm HTX vô cùng phấn khởi. Phát biểu tại Hội thảo trực tuyến sản xuất lúa theo phương pháp SRI, ông Nguyễn anh Đức cho biết, thời gian tới tiếp tục “hữu cơ hóa” trên cánh đồng canh tác của mình, để sản phẩm đạt chất lượng an toàn “tuyệt đối” cho người tiêu dùng. Đỗ Lý & CB
  • SỬ DỤNG PHÂN BÓN LÁ CHO MỘT SỐ CÂY TRỒNG CHÍNH TRÊN ĐẤT PHÈN
    SỬ DỤNG PHÂN BÓN LÁ CHO MỘT SỐ CÂY TRỒNG CHÍNH TRÊN ĐẤT PHÈN
    31/12/2021 17:30
    SỬ DỤNG PHÂN BÓN LÁ CHO MỘT SỐ CÂY TRỒNG CHÍNH TRÊN ĐẤT PHÈN Qua Hội thảo canh tác lúa cải tiến theo phương pháp SRI ngày 18/12/2021, một số bà con đặt câu hỏi về sử dụng phân bón và phân bón lá nói chung xử lý triệt để phèn trên đất trồng lúa hay thanh long Ban Biên tập xin gửi đến bà con bài viết của Tiến sỹ Nguyễn Đăng Nghĩa và PGS.TS. Mai Thành Phụng, với những chia sẻ sử dụng phân bón lá cho cây trồng trên đất phèn. 1) Những hiểu biết về bón phân qua lá cho cây trồng: * Đầu tiên cần hiểu phân bón lá cho thật đúng về tính chất và nguyên lý tác động. Khái niệm về phân bón lá được hiểu như sau: Phân bón qua lá là các hợp chất dinh dưỡng dễ hòa tan trong nước & được sử dụng phun lên lá cây trồng để lá cây hấp thu nhằm bổ sung dinh dưỡng cho cây. Các chất dinh dưỡng được lá cây hấp thu chủ yếu qua khí khổng, màng tế bào lá. Để hiểu được chức năng của phương pháp bón phân qua lá (BPQL) cần giải thích rõ ràng các quy trình sinh học khác nhau của cơ chế hấp thu qua lá và phân phối dinh dưỡng bên trong cây trồng. Để làm các nhiệm vụ bên trong lá hoặc vận chuyển các chất dinh dưỡng khoáng ra khỏi lá đến các bộ phận khác của cây trồng (qua cành, quả, củ và rễ cây), một quy trình hấp thu thông qua màng tế bào (plasma membrane), từ các không bào bên trong lá (apoplast) vào bên trong tế bào (symplast) sẽ xảy ra. * Bón phân qua lá có lợi ích gì ? Phân bón qua lá có hiệu lực nhanh và hiệu suất sử dụng cao. Cây sử dụng đến 95% lượng các chất bón qua lá (trong khi bón qua đất chỉ sử dụng được từ 25 – 60 %). Đặc biệt đối với các chất vi lượng bón qua lá có hiệu suất sử dụng cao hơn nhiều lần so với bón qua đất nên tiết kiệm chi phí (Do bón qua đất có thể sẽ bị đất giữ chặt, cố định). - Do được lá cây hấp thu nhanh nên phân bón lá đáp ứng nhanh nhu cầu dinh dưỡng cấp thời của cây, giúp cây chóng hồi phục khi bị sâu bệnh, bão lụt và chuyển hóa qua các chu trình sinh lý hoặc đất thiếu dinh dưỡng. - Phân bón qua lá làm tăng năng suất, phẩm chất và mẫu mã nông sản. - Do có nhiều ưu điểm nên việc bón phân qua lá đã trở thành một tiến bộ kỹ thuật hiện đang được áp dụng ngày càng phổ biến. Tuy vậy, bón phân qua lá cũng chỉ là biện pháp bổ sung, không thể thay thế cho bón qua đất. Giống như đối với người, ăn được là chính, còn uống thuốc bổ hoặc truyền dịch dinh dưỡng chỉ là bổ sung và khi cần thiết. * Nguyên lý hấp thu dinh dưỡng qua hệ thống lá của cây trồng: Theo Romheld và El-Fouly, (1999) sự hấp thu dinh dưỡng qua lá có 5 bước như sau: - Bước 1: Làm ướt bề mặt lá bằng dung dịch phân bón - Bước 2: Sự thâm nhập xuyên qua lớp biểu bì của vách tế bào - Bước 3: Sự xâm nhập chất dinh dưỡng vào các không bào bên trong lá cây - Bước 4: Sự hấp thu chất dinh dưỡng vào bên trong tế bào - Bước 5: Sự phân bố chất dinh dưỡng trong lá và chuyển dịch chúng đến các bộ phận khác. Cây trồng hấp thu được các chất dinh dưỡng qua hệ thống lá nhờ cấu tạo rất đặc biệt của lá. Khi các chất dinh dưỡng hòa tan trong nước (dạng dung dịch) sẽ đi vào cây nhờ 3 con đường chính: 1) Đi qua lớp Cutin(lớp sáp) 2) Đi qua các khí khẩu trên bề mặt lá 3) Thẩm thấu qua màng tế bao trên mặt lá. Các chất dinh dưỡng xâm nhập qua hệ thống lá cây là nhờ chui qua lớp cutin (lớp sáp). Lớp cutin trên bề mặt lá có cấu tạo bởi những acid béo như sáp nên không hoà tan trong nước. Đây là bức tường ngăn không cho dinh dưỡng thấm qua. Tuy nhiên trên lớp sáp có những vi lỗ có đường kính nhỏ khoảng vài nm và cũng có thể vài µm. Chính khoảng hở này giúp cho các chất đi vào, khi có nước đi kèm dẫn theo. Giữa những phân tử acid béo có khoảng hở (ectodesmata pore). Hơn nữa cấu tạo lớp cutin là acid galacturonic (có điện tích âm). Con đường thứ 2 mà các chất dinh dưỡng đi vô cây đó là con đường đi qua khe hỡ trên lớp biểu bì. Con đường mà các chất dinh dưỡng dễ dàng xâm nhập vào cây nhất - Đó là con đường dẫn đi qua khí khẩu (Cửa nhỏ để trao đổi không khí của thực vật mà có khi còn được gọi là khí khổng). Khí khẩu trên lá là nơi lý tưởng nhất để các chất dinh dưỡng đi vào cây dễ dàng hơn so với 2 con đường kia. Chúng ta đã biết khí khẩu trên bề mặt lá rất nhiều phụ thuộc vào từng loài thực vật, số lượng khí khẩu có trên bề mặt lá vớ số lượng khoảng từ 100-1.000 khí khẩu/mm2, kích thước thay đổi của mỗi khí khẩu cũng phụ thuộc vào đặc điểm thực vật của loải, kích thước của khí khẩu giao động từ 300-500 µm. Tuy nhiên, cũng có một đặc điểm bất tiện là cơ chế đóng mở khí khẩu cũng tùy loài thực vật. Đa số thì cơ chế mở khí khẩu đều mở vào ban ngày (khi có ánh sáng mặt trời), nhưng cũng có một số loài lại mở khí khẩu vào ban đêm (khi không có ánh sáng mặt trời). Một đặc điểm nữa khi sử dụng phân bón lá cũng cần lưu ý là: Khí khẩu có thể sẽ đóng lại khi có sự bất thường của thời tiết khí hậu (nóng quá hoặc lạnh quá). Do đó, việc phun xịt phân bón lá cũng cần quan tâm tới đăc điểm này đề cho hiệu quả phân bón lá đạt cao hơn. Mặt khác, khí khẩu lại tập trung chủ yếu ở vi trí mặt dưới của lá cây (trừ cây lúa thì số khí khẩu phân bố khá đồng đều giữa mặt trên và mặt dưới lá). Do vậy, kỹ thuật phun xịt phân bón lá cũng là một khâu kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu suất của phân bón sử dụng. Một trở ngại nữa là trên bề mặt của khí khẩu bao giờ cũng có lớp đệm không khí, chính lớp đệm không khí này cũng sẽ gây khó khăn cho các chất dinh dưỡng đi vào trong mô tế bào lá. Con đường thứ 3 mà các chất dinh dưỡng có thể xâm nhập vào cơ thể thực vật đó là xâm nhập qua màng tế bào lá. Hoạt động này khá bị động và hiệu suất phụ thuộc rất nhiều vào kích thước và nồng độ của các chất tan (rất cần công nghệ Nano). Hiệu quả nông học và hiệu quả kinh tế của phân bón lá cũng phụ thuộc vào một số yếu tố như: Chất bám dính & chất làm mềm lớp Cutin (lớp sáp) trên bề mặt lá. Chất bám dính có vai trò: làm mềm lớp sáp trên mặt lá, giúp giảm sức căng bề mặt để cho dung dịch được trải rộng trên mặt lá, tăng diện tích tiếp xúc và từ đó sẽ tăng tốc độ cũng như lượng dinh dưỡng vào mô lá. Ngoài ra, chất bám dính sinh học cũng góp phần loại trừ lớp đệm không khí để dinh dưỡng dễ dàng xâm nhập qua con đường khí khẩu Ngoài ra, hiệu lực của một loại phân bón lá phụ thuộc vào kích thước chất tan, nếu kích thước chất tan càng nhỏ thì khả năng để đi vào các khe hỡ & qua màng tế bào của mô lá càng dễ dàng hơn Phụ thuộc vào thành phần trong phân bón lá: nếu dinh dưỡng có trong thành phần phân bón càng nhiều chức năng hoặc chuyên dùng cho từng giai đoạn (từng thời điểm) và phù hợp với nhu cầu dinh dưỡng của từng cây trồng (khả năng đáp ứng nhanh) thì hiệu quả càng cao khi sử dụng những loại phân bón lá này. Khi dung dịch phân bón đã qua được bề mặt lá đề vào bên trong không bào thì cũng phải tuân theo một số nguyên tắc hóa lý- sinh học của thực vật. Những nguyên tắc chung về việc hấp thu chất dinh dưỡng khoáng từ các không bào vào bên trong từng tế bào bên trong của cây cũng giống như sự hấp thu từ rễ. Theo đó, tốc độ hấp thu như sau: a. Những phân tử nhỏ nhanh hơn những phân tử lớn (urea > Fe-Chelates). b. Những phân tử không mang điện (nối cộng) nhanh hơn các ion tĩnh điện. c. Những ion hoá trị một nhanh hơn ions đa hoá trị (H2PO4- > HPO42-) d. Độ pH của không bào (apoplast) thấp sẽ hấp thu các anions nhanh hơn. e. Độ pH của không bào (apoplast) cao sẽ hấp thu các cations nhanh hơn. Sự phân bổ từng chất dinh dưỡng riêng biệt bên trong và chuyển dịch chúng ra ngoài lá sau khi phun phân bón thì tùy thuộc vào từng mô libe và tính cơ động của hệ mao dẫn. Các chất dinh dưỡng lưu động libe (mobile nutrients) như N, P, K, Mg được phân bố vào mỗi mô mao dẫn cũng như mỗi mô libe bên trong lá cây, và một tỷ lệ lớn các chất dinh dưỡng đã hấp thu sẽ được vận chuyển ra khỏi lá tới các bộ phận khác của cây nơi có nhu cầu cao. Ngược lại các chất dinh dưỡng có khả năng cơ động libe giới hạn (nutrients with a restricted phloem mobility) như Ca, Cu, Fe, Mn, Zn sẽ được phân bố chính cho mỗi mô mao dẫn bên trong lá cây và không có sự chuyển dịch đáng kể nào ra ngoài. Riêng đối với Boron (B), sự lưu chuyển bên trong cây tùy thuộc rất nhiều vào các di truyền gen và là yếu tố quyết định đến hiệu quả của phân bón Boron (B) qualá. Phân bón lá thường gồm những loại gì? Tất cả các chất dinh dưỡng cho cây, gồm các chất đa lượng (N, P, K), các chất trung lượng (Ca, Mg, Si, S) và các chất vi lượng (Cu, Zn, Mn, B, Fe, Mo) đều có thể sử dụng bón qua lá. Có thể sử dụng ở dạng phân đơn hoặc phân có 2 yếu như N, P, K, NP, NK, PK và có phối thêm các vi lượng khác như: B, Fe, Mn, Cu, Zn, thường là những chất cây cần nhiều và hay bị thiếu. Những phân bón lá thường là các hợp chất khoáng dễ hòa tan trong nước. Hiện nay người ta cũng đã sử dụng một số chất từ các hợp chất hữu cơ như các amino acid, các Humat, các chất Vitamine, chất ĐHSTTV (hormon tổng hợp) và các Oligosacarit được tách chiết từ một loài rong biển hay Oligochitosan tách chiết từ vỏ tôm cua. Những hợp chất hữu cơ này ngoài cung cấp chất dinh dưỡng cho cây một cách cân đối còn có tác dụng kích thích sinh trưởng và tăng sức chống bệnh cho cây. Phần lớn các phân bón lá hiện nay gồm hỗn hợp các chất dinh dưỡng đa lượng và vi lượng, một số loại còn thêm các enzym, chất kích thích sinh trưởng (Chất Điều hóa sinh trưởng thực vật). Tiêu chuẩn của một loại phân bón lá tốt cần có các đặc tính sau: - Tan hoàn toàn trong nước. - Độ tinh khiết cao, không chứa các hợp chất độc. - Hàm lượng ammonia và sulphate thấp. - Không chứa Clor (Cl). - Khả năng kết tinh dạng kim cương trong ure thấp dưới 0.35 %. - Các nguyên tô dinh dưỡng kim loại (vi lượng) dưới dạng chelate. - Hàm lượng các gốc muối thấp. - Có thể pha chung với thuốc BVTV khi xịt mà không làm giảm hiệu lực. - Nhãn mácbao bì phải ghi rõ ràng hàm lượng các chất trong thành phần. - Hướng dẫn sử dụng rõ ràng ghi trên nhãn bao bì sản phẩm hoặc có chương trình hỗ trợ kỹ thuật cho người sử dụng bởi nhà sản xuất hoặc đơn vị phân phối. Hiện nay trên thị trường nước ta có rất nhiều chế phẩm phân bón lá, trong đó chủ yếu là phân hỗn hợp nhiều yếu tố của nhiều nhà sản xuất, cung ứng trong và ngoài nước (sản phẩm nhập khẩu). Tốc độ phát triển và sử dụng phân bón lá trong ngành nông nghiệp Việt Nam ở những thập niên vừa qua không ngừng tăng cao cả về số lượng và chất lượng. 2) Kỹ thuật sử dụng phân bón lá đạt hiệu quả cần lưu ý: - Không nên sử dụng phân bón lá khi cây đang ra hoa, đất bị khô hạn và trời nắng nóng. Nên phun buổi sáng, có nắng nhẹ, khoảng 8 đến 10 giờ sáng là tốt nhất vì lúc này khí khẩu lá mở nhiều dễ hấp thu phân, trời cũng chưa nắng gắt, cần phun ướt cả mặt dưới lá. - Hòa phân với nước theo đúng nồng độ hướng dẫn trên bao bì. Pha đậm đặc quá dễ bị cháy lá. Thời gian và số lần phun cũng phải tuân theo hướng dẫn, không lạm dụng quá mức có thể gây hại cây, hoặc giảm chất lượng nông sản. - Mỗi loại phân bón có thành phần và tỉ lệ các chất khác nhau, thích hợp với mỗi loại cây trồng, mỗi giai đoạn phát triển của cây, với mỗi loại đất và mục đích khác nhau. Cần xem xét cụ thể từng loại phân để sử dụng đúng điều kiện và mục đích. Thí dụ cùng loại phân bón lá Poly-Feed, loại 19-19-19 sử dụng cho lúa phun khi lúa bắt đầu và đang đẻ nhánh, loại 15-15-30 do có nhiều loại kali hơn nên phun khi lúa có đòng và sau khi trổ đều. Không nhầm lẫn phân bón lá với chất kích thích sinh trưởng cây trồng (CĐHSTTV) vì mỗi loại có tác dụng khác nhau. Trong chất kích thích không có chất dinh dưỡng. Nếu muốn vừa kích thích vừa cung cấp chất dinh dưỡng thì phải dùng loại phân có chất kích thích hoặc pha chung phân bón lá với chất kích thích. Cuối cùng cần chú ý là phân bón lá đôi lúc cần thiết song không thể thay thế phân bón qua đất. - Theo Brown, 1999, hiệu qủa của phương pháp BPQL ảnh hưởng bởi 03 yếu tố sau: a) Yếu tố lý và hoá tính của phân bón sử dụng: Sự hấp thu chất dinh dưỡng tùy thuộc vào các anion nối kết. Thí dụ sự hấp thu Zn(NO3)2 cao hơn so với ZnSO4 có thể được giải thích bởi sự kết nối cation-anion (cation-anion symport). Năm 1999, Burkhardt et al đã thực nghiệm bằng cách nhúng các lá cây Vicia faba vào dung dịch 1% Zn-nitrate và dung dịch 1% Zn-sulphate thì thấy rằng: khi Zn được liên kết với gốc nitrat (N03-) thì khả năng hấp thu lớn gấp 3.5 lần so với gốc sulphate. Thời gian để lá cây hấp thu 50% tổng lượng của từng nguyên tố đã được tính như sau: N = 1–6 giờ: P = 1–5 ngày K = 10 –24 giờ Ca = 1–2 ngày Mg = 2–5 giờ Fe = 1 ngày (8%) Mn = 1–2 ngày Zn = 1–2 ngày. b. Yếu tố về khả năng xâm nhập của chất dinh dưỡng vào bên trong tế bào chất ảnh hưởng bởi chủng loại giống của thực vật, loại và tuổi của lá cây, hoá tính của phân bón, vào các điều kiện môi trường như ẩm độ, nhiệt độ, ngày hay đêm, và phương pháp áp dụng. Thí dụ: Khi ẩm độ cao, sự hấp thu qua lớp cutin sẽ gia tăng vì quá trình hydrat hoá của lớp cutin cao hơn. (Chamel et al, 1991 Van Gardingen va Grace, 1992) và số lượng các khí khổng sẽ mở ra nhiều hơn (Burkhardt et al 1999). c. Yếu tố về khả năng lưu động bên trong lá cây của các chất dinh dưỡng sử dụng được xác định bởi khả năng cơ động của các mô libe liên hệ, chủng tính và độ già của lá cây và sự bất động của các phần tử hiện diện tại nơi áp dụng phân bón. * Cây thường thiếu hụt dinh dưỡng trong những trường hợp nào? Hiểu quả của phân bón lá càng cao khi kịp thờ đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của mỗi cây, của mỗi thời điểm mà cây cần và bù đắp nguyên tố dinh dưỡng thiếu hụt (dinh dưỡng giới hạn). Mỗi nguyên tố dinh dưỡng có vai trò nhất định, thiếu hụt bất kì nguyên tố nào đều ảnh hưởng tới sinh trưởng, phát triển và năng suất của cây trồng. Nguyên nhân gây nên sự thiếu hụt có thể do đất, do bón phân hoặc sự tương tác giữa những nguyên tố. - Có loại đất tốt, độ phì cao, cung cấp nhiều chất dinh dưỡng cho cây, nhưng cũng có nhiều loại đất xấu, độ phì thấp, thiếu chất dinh dưỡng hoặc nếu có thì cây không hút được. Đất xấu có thể do nguồn gốc hình thành (như loại đất chua phèn) hoặc do bị rửa trôi lâu năm mất chất dinh dưỡng (như đất xám, đất bạc màu). Đất nhiều cát bị ngập úng lâu hoặc thiếu nước cũng làm cho cây bị thiếu hụt dinh dưỡng. - Ngoài chất dinh dưỡng có sẵn trong đất, việc bón phân để cung cấp bổ sung chất dinh dưỡng cho cây là rất cần thiết. Bón không đủ phân hoặc bón không cân đối, không đúng thời điểm yêu cầu của cây là nguyên nhân chủ yếu gây nên sự thiếu hụt dinh dưỡng. Đặc biệt đối với các loại đất xấu thì việc bón phân có ý nghĩa quyết định. Tùy theo loại đất, loại cây và điều kiện khí hậu mà định lượng các loại phân bón lá cho phù hợp. - Sự tương tác giữa các nguyên tố trong đất cũng có thể gây nên sự thiếu hụt dinh dưỡng cho cây. Bón nhiều lân có thể gây thiếu hụt kẽm, nhiều kali ảnh hưởng đến đạm và magiê, nhiều đồng ảnh hưởng đến sắt, nhiều sắt làm cây khó hấp thu và gây thiếu P, K và kẽm. Ngược lại, thiếu một nguyên tố này cũng có thể gây thiếu một nguyên tố khác. Thiếu lân cũng gây thiếu đạm. Thiếu các chất vi lượng làm cây giảm khả năng hấp thu và đồng hóa đạm. Đối với mỗi loại cây, sự thiếu hụt các chất dinh dưỡng thể hiện những triệu chứng bệnh lý khác nhau. Khi xuất hiện triệu chứng thiếu hụt dinh dưỡng cần xác định xem cây thiếu chất gì, từ đó bổ sung với lượng thích hợp. Ngoài các phương pháp phân tích cây, phân tích đất, người ta có thể dùng một số cây để xác định cây thiếu chất gì, gọi là cây chỉ thị. Những loại cây này nhạy cảm hơn đối với sự thiếu hụt dinh dưỡng, triệu chứng thể hiện sớm và đặc trưng, rõ rệt hơn so với những loại cây khác. Thí dụ cây Ngô chỉ thị cho đất thiếu lân, cây họ đậu chỉ thị cho đất thiếu Canxi, cây chanh chỉ thị cho đất thiếu kẽm, cây khoai tây, cà chua chỉ thị cho đất thiếu kali,… Do vậy, vai trò của phân bón lá sẽ góp phần hỗ trợ rất hữu hiệu cho các loại phân bón rễ, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng nông sản. Theo Harmen Tjalling Holwerda có 05 lý do chính để thấy cần phải áp dụng BPQL, 05 lý do đó bao gồm: a. Hiệu chỉnh hiện tượng thiếu dinh dưỡng: BPQL có thể nhanh chóng hiệu chỉnh hiện tượng thiếu dinh dưỡng vì phân bón được phun ngay vào chỗ đang thiếu. Thí dụ hiện tượng thiếu sắt có thể xảy ra khi cây trồng trên nền đất sét (độ pH cao). Phun hợp chất Fe-chelate (Fe-EDTA) có thể giải quyết vấn đề. b. Ngăn ngừa hiện tượng thiếu dinh dưỡng: Khi phân bón xuống đất không phát huy được hiệu quả đối với một vài nguyên tố nào đó, thí dụ Mn trong vùng đất có độ pH cao, áp dụng PBQL (với Mn) có thể ngăn ngừa được hiện tượng thiếu Mn. c. Thay thế hoặc bổ sung cho phương pháp bón phân qua rễ: Việc bón phân qua lá có thể phần nào thay thế phân bón qua rễ nhưng không bao giờ có thể thay thế hoàn toàn được. BPQL giúp duy trì sự phát triển và mạnh khỏe của cây trồng và làm gia tăng chất lượng của nông sản vì có thể áp dụng đúng lúc và đúng nơi, hoàn toàn độc lập với các điều kiện về đất đai và nhất là khả năng tác động nhanh của nó. Sự gia tăng năng suất ngoài mong đợi sau khi áp dụng BPQL là do sự liên hợp dẫn đến hậu qủa gia tăng sự hấp thu dinh dưỡng từ bộ rễ. Sự gia tăng này là do việc BPQL đã tạo nên sự cân bằng các chất dinh dưỡng bị thiếu mà đó lại là yếu tố giới hạn sự quang hợp và sự sản xuất sinh học (Baier và Baierova, 1999). Những nhà nghiên cứu này đã thử phun qua lá một lượng 2.69kg N/ha và 0.96kg Mg/ha trên cây bắp và thấy rằng khả năng hấp thu gia tăng theo thứ tự là 55 kg N/ha và 6Kg Mg/ha so với đối chứng. d. Gia tăng khả năng chống chịu sự phá hoại của sâu bọ và bệnh hại: Điều này dễ hiểu vì một cây trồng khỏe mạnh thì ít mẫn cảm với các loài sâu và các loại bịnh hơn. Một công thức phân bón kết hợp giữa P và K (PK 50-30 và chất phụ gia) đã được khám phá là có các tác dụng làm cho cây cứng cáp và khỏe mạnh hơn, giúp cho cây trồng tạo được khả năng chống lại sự phá hoại của loài nấm mốc sương trên cây bông hồng, cây cà tím và cà chua. e. Gia tăng khả năng chống lại sự biến đổi bất thường của thời tiết (quá lạnh): BPQL có thể làm gia tăng sự tập trung các muối khoáng vào bên trong tế bào, làm hạ điểm đông của tế bào chất. 3) Qui trình kỹ thuật sử dụng PBL cho một số cây trồng chính. 3.1/ Trên cây lúa: 3.1.1. Trường hợp bình thường: - Cây lúa có những giai đoạn chính cần bổ sung các dinh dưỡng phù hợp như: Khi lúa đạt 7-10 ngày sau sạ (nss) Khi lúa đạt 18-22 nss Khi lúa đạt 38-42 nss Khi lúa trỗ hoàn toàn (65-70 nss). - Trong giai đoạn lúa đạt 7-10 cần bón phân qua rễ để giúp cây lúa tăng nhanh phát triển sinh khối để tích lũy dinh dưỡng. Giai đoạn này do cây còn nhỏ, diện tích lá chưa đủ để áp dụng xịt PBL. - Giai đoạn lúa đạt 18-22 ngày: Đây là giai đoạn lúa đẻ nhánh mạnh, cần xịt phân bón lá để hỗ trợ lúa đẻ nhanh, đẻ mạnh và tập trung nhằm tăng tỷ lệ số bông hữu hiệu trên bụi lúa và trên ruộng lúa. PBL cho giai đoạn này cần có tỷ lệ NPK = 3:2:1 hay 3:1:1 (ví dụ: phân bón NPK (30-10-10), NPK (30-20-10). - Giai đoạn lúa đạt 38-40 ngày: Đây là giai đoạn lúa chuyển qua từ pha sinh trưởng dinh dưỡng sang pha sinh trưởng sinh thực. Cây lúa có nhu cầu cao về nguyên tố dinh dưỡng P (phân chứa lân), nếu giai đoạn này thừa N sẽ ảnh hưởng đền quá trình hình thành đòng. Trong giai đoạn này cây lúa cũng cần được bổ sung thêm Zn và B để hỗ trơ việc phát triển đòng. Giai đoạn này sẽ quyết định số hạt trên bông (yếu tố cấu thành năng suất), vì vậy cần chú ý sử dụng phân bón lá cho lúa. Phân bón lá thích hợp cho lúa làm đòng là phân có tỷ lệ P chiếm hàm lượng cao (thường hàm lượng P > N gấp từ 3-6 lần, một số loại thích hợp như: NPK (10-60-10 +TE) NPK (6-30-30 + TE) NPK (10-30-10 + TE). - Giai đoạn từ 55-60 ngày: Đây là gia đoạn trước khi lúa trỗ (nhóm ngắn ngay từ 90-105 ngày). Giai đoạn này cần quan sát màu sắc lá lúa (Chú ý trên lá đòng và 2 lá kế đòng- Lá công năng 1 và CN 2). Nếu lá màu vàng hoặc vàng nhạt hay (thiếu dinh dưỡng) hoặc lá có màu xanh tối (biểu hiện thừa N thiếu K) thì cũng rất cần sử dụng phân bón lá nhằm bổ sung dinh dưỡng giúp lúa trổ đồng loạt (chống nghẹt đòng, trỗ thoát đòng) và đủ dinh dưỡng nuôi hạt suốt giai đoạn lúa chín sữa và chín sáp (hạn chế hiện tượng hạt lúa bị lép và lửng làm giảm năng suất và phẩm chất hạt lúa). Tóm lại: Với cây lúa cũng cần bổ sung dinh dưỡng qua lá (bón phân qua lá) ở 03 giai đoạn thiết yếu liên quan nhiều đến yếu tố cấu thành năng suất. Đó là: Giai đoạn 18-22 nss (quyết định số bông/m2) Giai đoạn 38-40 nss (quyết định số hạt/Bông) và giai đoạn 55-60 ngày (quyết định số hạt chắc/Bông và P.1000 hạt). 3.1.1. Trường hợp đặc biệt cần lưu ý: - Khi trời khô hạn, không có nước tưới có thể phun phân bón lá giúp cây trồng cầm cự (chờ mưa hay chờ bơm nước) cũng là giải pháp tình thế cần xử lý duy trì, bảo đảm sự sinh trưởng, phát triển của cây trồng (phun xịt 5-7 ngày/lần). - Khi bộ rễ bị hư (do ngộ độc phèn hay ngộ độc hữu cơ) cần thay nước, bón lân, phun phân bón lá giúp nuôi cây, chờ đợi 3-5 ngày sau rễ trắng moc ra thì việc cứu lúa đã thành công, tiếp tục chăm sóc bình thường. - Khi nước mặn xâm nhập, nhất là vào giai đoạn lúa trổ (độ mặn chỉ cần >2%o), tuyệt đối không được bơm nước mặn vào ruộng sẽ làm hạt lúa hả họng (không khép vỏ trấu được) và thất thu năng suất >50%. Có thể sử dụng nước lợ này để phun xịt phân bón lá để cầm cự (giống như trường hợp chống hạn) vẫn cho thu hoạch tương đối khá. 3.2. Kỹ thuật sử dụng phân bón lá cho cây Ngô (Bắp): Cây Ngô sinh trưởng và phát triển rất mẫn cảm với phân bón, việc thiếu hay thừa một yếu tố dinh dưỡng nào đó đều được biểu hiện qua màu sắc và độ dày bộ lá. Ví dụ khi thiếu N thì lá xanh nhạt, vàng lá chân khi thiếu P thì lá mỏng và có màu huyết dụ khi thiếu K lá nhỏ, màu xanh tối, khô đầu và mép lá... Vì vậy, sử dụng bổ sung thêm phân bón lá cho bắp cũng là một khâu kỹ thuật làm gia tăng năng suất hạt bắp khi dinh dưỡng bị thiếu hụt. Sử dụng phân bón lá cũng theo từng giai đoạn và nhu cầu dinh dưỡng của cây ngô trong giai đoạn đó. Cây ngô được bổ sung phân bón lá (Bón thúc bằng phân bón lá) theo 3 giai đoạn: + Thúc lần 1 (8-10 ngày sau mọc): Sử dụng phân bón lá có hàm lượng N cao như NPK (30-10-10 + TE). Để kích thích bộ rễ phát triển sử dụng thêm phân có chứa P cao và Acid humic như phân bón NPK (10-30-10) hay NPK (15-30-15+ TE) Super Humic. Chú ý:Theo hướng dẫn trên bao bì. + Thúc lần 2 (20 ngày sau mọc): Sử dụng phân có hàm lượng N cao như: NPK(30-10-10 + TE) và NPK (20-20-20). + Thúc lần 3 (45 ngày sau mọc): Đây là giai đoạn cây chuẩn bị cho hình thành cờ và phun râu (hình thành hoa cái và hoa đực). Giai đoạn này cây ngô cần hàm lượng P, B và K cao. Sử dụng phân bón có tỷ lệ P>K>N và bổ sung vi lượng B để tăng thụ phấn. Cần sử dụng loại phân bón lá: NPK (10-60-10+TE) NPK (6-30-30+TE) và Canxi-Bore hoặc Siêu Bore (giàu B). Sử dụng theo hướng dẫn trên bao bì. + Thúc lần 4: (Sau khi ngô đã phun râu, trỗ cờ và thụ phấn xong) Giai đoạn này cần duy trì bộ lá ngô xanh bền, giảm thiểu hiện tượng vàng lá chân, chuyển màu lá, khô đầu và mép lá làm ảnh hưởng tới hiệu suất quang hợp sẽ ảnh hưởng tới độ chắc của bắp và trọng lượng của hạt làm tụt giảm năng suất. Giai đoạn này nhu cầu K>N> P nên sử dụng các loại phân bón lá như: NPK (14-7-21) NPK (12-0-40 + 3Ca) HK (7-6-44). Xịt thêm Rong Biển (Seed Weed) để cho bộ lá xanh bền hơn. 3.3. Trên cây Dứa (Khóm và Thơm): Tại Việt Nam dứa được trồng từ Bắc đến Nam, tổng diện tích trồng dứa cả nước hiện khoảng 40.000 ha tập trung khá nhiều ở các tỉnh miền Tây (chiếm tỷ lệ gần 90%) như: Kiên Giang, Tiền Giang, Cà Mau, Hậu Giang, Cần Thơ, Long An… Khu vực phía Bắc có Thanh Hóa, Ninh Bình, Hòa Bình, Tuyên Quang, Phú Thọ, khu vực duyên hải và vùng núi miền Trung có Nghệ An, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định… Cây Dứa là một loại cây ăn trái có khả năng thích ứng được trên vùng đất phèn (trồng trên Líp, Luống). Tuy nhiên, để khai thác đất phèn có hiệu quả thì việc bố trí cây dứa trên các loại đất phèn có địa hình cao hoặc lên líp tỏ ra là một trong những cây trồng thích hợp và cho hiệu quả kinh tế. Ngoài các kỹ thuật canh tác như làm đất, lên líp, chọn giống, bảo vệ thực vật thì khâu kỹ thuật bón phân quyết định đến 40 % năng suất. Để nâng cao hiệu suất sử dụng phân bón cho cây dứa thì việc áp dụng phân bón lá kết hợp với qui trình bón phân dưới gốc hợp lý cũng là một khâu kỹ thuật cần được quan tâm, ứng dụng. Đặc biệt, canh tác dứa trên nền đất phèn có sự biến động nhiều của các chỉ tiêu pH, P205, Ca, Mg, B, Al và Fe thì việc ứng dụng phân bón lá sẽ góp phần nâng cao năng suất và chất lượng trái dứa thương phẩm. Trước tiên, phải chú ý đến nhu cầu dinh dưỡng của cây dứa qua các thời kỳ sinh trưởng phát triển để từ đó bổ sung kịp thời bằng chế độ bón phân qua lá. Tham khảo nhu cầu dinh dưỡng qua bảng sau: Lượng hấp thụ các chất dinh dưỡng của 100 cây qua các thời kỳ (g) Tháng Chồi nách 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 15 tháng 18 tháng Nguyên tố N 10 21 44 232 304 309 420 P2O5 7 14 32 132 199 187 350 K2O 18 45 133 564 1016 1300 1670 CaO 10 13 17 69 230 343 453 MgO 11 9 19 81 104 236 299 Alts 8 2 2 9 47 70 113 SiO2 84 133 310 1311 2731 3450 4576 Nguồn: Folldsmish và Boume Qua bảng trên ta thấy, cây dứa kể từ tháng thứ 9 đến tháng 18 (giai đoạn cho trái hàng năm) đã có sự thay đổi về nhu câu dinh dưỡng khá lớn: + Nhu cầu của dinh dưỡng K > N > P205 và tăng dần theo các tháng. Tháng thứ 9 thì nhu cầu của K so với N là lớn gấp 2,4 lần và lớn hơn P205 gấp 4,3 lần. Sang đến tháng thứ 12 thì K > N = 3,3 lần K > P205 = 5,1 lần. Cho đến tháng thứ 15 thì lượng tăng còn lớn hơn nữa, cụ thể K > N = 4,2 lần K > P205 = 7,0 lần. Riêng yếu tố Ca0 thì tính từ tháng thứ 9 đến tháng thứ 18 tăng lên 6.5 lần. Mg0 tăng 3,7 lần và Si02 tăng 3,5 lần. Đặc biệt, cây dứa phát triển đến tháng thứ 18 thì nhu cầu Si02 là cao nhất so với các nguyên tố dinh dưỡng đa và trung lượng khác. Dựa trên nhu cầu thực tế của cây dứa qua các tháng, cần sử dụng bổ sung thêm bằng con đường sử dụng phân bón lá nhằm đáp ứng kịp thời các nguyên tố dinh dưỡng theo đúng nhu cầu cho cây dứa. Cụ thể: · Giai đoạn cây dứa mới trồng được 9 tháng: Sử dụng phân bón lá có tỷ lệ N:P205:K20 = 2 : 1 : 4 + Si02. · Giai đoạn cây dứa được 12 tháng tuổi: sử dụng phân bón có tỷ lệ N:P205:K20 = 1,5 : 1,0 : 5,1 + Si02 + Ca + Mg. · Giai đoạn cây dứa được 15 tháng tuổi: sử dụng phân bón có tỷ lệ N:P205:K20 = 1,6 : 1,0 : 7,0 + Si02 + Ca + Mg. · Giai đoạn cây dứa được 18 tháng tuổi: sử dụng phân bón có tỷ lệ N:P205:K20 = 1,2 :1,0 : 4,8 + Si02 + Ca + Mg. Cây dứa ở thời kỳ cho trái hàng năm thì cần sử dụng phân bón lá theo từng giai đoạn sinh lý. Cụ thể sẽ có những giai đoạn chính như sau: · Giai đoạn mới kết thúc thu hoạch xong: Rất cần bổ sung thêm dinh dưỡng để phục hồi thân lá dứa, phát triển thêm chồi thân mới để chuẩn bị cho lứa quả của năm tới. Giai đoạn này cần sử dụng phân bón lá có tỷ lệ N và P cao như: 30-10-10 30-20-10 và một số chề phẩm có bổ sung hoạt chất Cytokinin (Rong biển) để kích thích chồi mới. · Giai đoạn kích thích ra hoa (Khi các chồi cây có từ 40 số lá trở lên): Sử dụng phân bón lá có hàm lượng P > K > N và bổ sung thêm B, Zn và Mg. Một số loại phân bón lá thích hợp cho giai đoạn này như: 10-60-10 +Te 6-30-30 +Te 0-40-40 +Te Botrac. Fertibore. · Giai đoạn mới đậu trái: (trái còn nhỏ): Sử dụng phân bón có tỷ lệ N và Mg cao để giúp to trái nhanh và duy trì màu xanh của lá giúp tăng hiệu suất quang hợp. Những loại phân thích hợp cho giai đoan này như: 30-10-10 + Mg0 20-15-5 +Mg. · Giai đoạn phát triển trái (vừa to vừa nặng trái): Sử dụng một số loại phân bón có tỷ lệ N và K cao như: 20-2-20 +Mg0 12-12-17+ Te 7-5-44+Te 12-0-40+3Ca. Chú ý: - Do cấu tạo của lá dứa có lớp Cutin khá dày, bóng lại đứng lá, do vậy khi sử dụng phân bón lá cần bổ sung thêm các chất bám dính và các hoạt chất làm tăng sức căng bề mặt như chế phẩm Citrus oil (Map Green 6SL). Khi phun xịt nên chú ý vào lúc trời mát (từ 7h-9h hoặc từ 16h-18h) BBT.
  • 10 lưu ý khi lựa chọn sử dụng phân bón
    10 lưu ý khi lựa chọn sử dụng phân bón
    31/12/2021 17:18
    10 lưu ý khi lựa chọn sử dụng phân bón Trong kỳ dịch Covid19 thứ tư, giá cả vật tư nông nghiệp tăng cao, bà con rất khó khăn trong lựa chọn phương án tái sản xuất rất nhiều trường hợp đã bỏ tiền đầu tư phân bón nhưng lại không hiệu quả, còn “tiền mất, tật mang” Ban biên tập xin gửi đến Quý bà con một vài kinh nghiệm lựa chọn sử dụng phân bón, nhất là dùng cho cây thanh long VietGAP. Thứ 1. KHÔNG HAM RẺ Không mua hàng trôi nổi, không rõ nguồn gốc, đặc biệt không ham rẻ, khuyến mãi cao vì ẩn chứa rủi ro (người mua lầm, người bán không lầm). Thứ 2. UY TÍN Nên mua hàng ở đại lý uy tín, công ty uy tín (có thương hiệu lớn), cùng chịu trách nhiệm với nông dân cho đến cuối cùng (đến khi thu hoạch). Khi mua nên lấy hóa đơn, lưu giữ mẫu (khi cần để phân tích, kiểm chứng) Thứ 3. CHẤT LƯỢNG Không sính ngoại (phân ngoại hay phân nội nếu đúng chất lượng cũng như nhau), không mua hàng mẫu mã đẹp, mà chất lượng bên trong kém (hàng không đồng đều, bị vón cục, đóng rắn, chảy nước, bị biến đổi chất lượng) Thứ 4. ĐA YẾU TỐ, ĐA CÔNG DỤNG, PHÙ HỢP ĐẤT VÀ CÂY Chọn phân bón chứa nhiều chất dinh dưỡng, chất cải tạo đất phù hợp với cây trồng và thổ nhưỡng nơi đang canh tác (vì cây trồng cần 17 chất) Thứ 5. PHÙ HỢP GIAI ĐOẠN SINH TRƯỞNG CỦA CÂY Chọn phân bón phù hợp với giai đoạn sinh trưởng của cây trồng bởi mỗi giai đoạn sinh trưởng của cây trồng cần các chất dinh dưỡng khác nhau. Thứ 6. CHỐNG THẤT THOÁT PHÂN BÓN Chọn loại phân bón tan chậm trong đất, chống thất thoát để tăng hiệu quả sử dụng phân bón, giảm ô nhiễm môi trường Thứ 7. TĂNG HIỆU QUẢ Chọn phân bón có áp dụng thành tựu KHKT mới để tăng hiệu quả sử dụng phân (đạm vàng, đạm xanh, đạm đen, DAP avail…) Thứ 8. SO SÁNH GIÁ PHÂN Chọn phân có giá thành 1 đơn vị dinh dưỡng:1 kg đạm nguyên chất, 1 kg lân nguyên chất (P2O5 hữu hiệu), 1 kg kali (K2O) nguyên chất… thấp nhất (tính toán giá thành dựa trên giá bao phân và thành phần dinh dưỡng ghi trên bao bì). Vì vậy nếu doanh nghiệp uy tín nhưng lại bán phân bón quá đắt, hưởng nhiều lãi cũng không nên mua mà tìm doanh nghiệp uy tín khác có giá bán phù hợp hơn. Thứ 9. TRÁNH NHẦM LẪN Đọc kỷ nhãn hiệu, thành phần dinh dưỡng và cách sử dụng, hạn sử dụng trước khi mua phân để tránh nhầm lẫn. Thí dụ trên nhãn mác có ghi Phân bón rễ cao cấp Vôi – Lân – Canxi song thành phần P2O5 trên bao bì chỉ là 0,2% hoặc sản phẩm Lân – Canxi – Magie – Silic hàm lượng P2O5 đăng ký là 1,1% song giá bán ngang ngửa hoặc có khi bán giá cao hơn các thương hiệu phân lân uy tín có hàm lượng P2O5 15-17%.` Thứ 10. TÍN NHIỆM CAO Nên mua phân bón có trong danh mục hoặc được phép lưu hành, ưu tiên mua các loại phân đạt được nhiều tiêu chí trên, phân đã quen dùng, đã có thử nghiệm thực tế cho kết quả cao về năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế, phù hợp với tập quán sử dụng của nông dân. Đỗ Lý & CB
  • BIỆN PHÁP TỔNG HỢP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT LÚA TRÊN ĐẤT PHÈN
    BIỆN PHÁP TỔNG HỢP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT LÚA TRÊN ĐẤT PHÈN
    31/12/2021 17:16
    BIỆN PHÁP TỔNG HỢP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT LÚA TRÊN ĐẤT PHÈN Bình Thuận vốn là vùng đất có địa hình đồng bằng xen kẽ đồi núi thấp, chính vậy việc canh tác nông nghiệp nói chung và riêng cây lúa tại những vùng có thể chuyên canh cây lúa thuộc đất bán sơn địa, đất vùng gần đồi núi rất dễ bị nhiễm phèn (phèn nhôm, phèn sắt). Ban Biên tập xin chuyển đến quý độc giả một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất lúa trên đất phèn qua chuyên gia PGS. TS. Mai Thành Phụng, nguyên Trưởng VP Khuyến nông Nam bộ. Để canh tác lúa trên đất phèn có hiệu quả cần áp dụng biện pháp tổng hợp sau: 1./ Biện pháp thủy lợi: (Phương châm thủy lợi là hàng đầu). Cần thiết kế kênh mương thủy lợi nội đồng cho thật tốt. Nguyên tắc cơ bản nhất là phải có nước ngọt thì mới tiến hành trồng lúa trên đất phèn được. Để có thể xả phèn tốt thì hệ thống kênh mương như sau: Một mương xả phèn với độ sâu 1-1,2m, rộng 1,5-2,0m và nối với kênh nguồn. Mương này còn có tác dụng giúp cho việc vận chuyển phân, giống, sản phẩm sau thu hoạch rất thuận lợi. Trong mỗi ruộng nên làm những mương giáp vòng quanh ruộng để xả phèn, bề rộng và sâu chỉ cần 50-70cm. Thiết kế kênh tiêu, thoát phèn khoảng cách 30m, chạy dọc song song với lô ruộng – nếu lô ruộng rộng hơn 30m, thì nhất thiết sau khi gieo sạ xong, phải mở mương tạm (chiều ngang 20-30cm, sâu: 20-30cm) gọi là mương xương cá nối với mương giáp vòng để việc thoát phèn thuận lợi hơn Tốt nhất, lần lồng đất sau cùng, gắn một trục lăn có các gờ (để móc các mương tạm) là rất hay. Nguyên tắc quản lý nước trên đất phèn trồng lúa: Đặc điểm của đất phèn: Đất phèn có độ phì tiềm tàng cao do có chứa nhiều chất hữu cơ (C=5-10%), giàu đạm tổng số (N=0,2-0,5%) nhưng chất hữu cơ đa số là mùn thô, cây khó sử dụng và lại thiếu đạm dễ tiêu, cây thường đói đạm. Do đó trong quá trình canh tác lúa cần phải quan tâm đến các biện pháp tăng cường sự hoạt động của vi sinh vật để phân giải các chất khó tiêu thành dễ tiêu để cung cấp cho cây trồng (để khô lớp đất mặt, hoặc bón lân, vôi) Hơn nữa, đất phèn chứa nhiều độc chất: sunphát sắt, sunphát nhôm do trong điều kiện oxyt hóa, bị xì phèn. Trong việc canh tác lại phải quan tâm đến việc ém phèn (một nguyên tắc thành công rất cơ bản trên đất phèn: chủ yếu là ém phèn kế đến mới là rửa phèn) vì phèn nằm ở tầng sinh phèn pyrite (FeS2) nếu có điều kiện oxyt hóa sẽ dậy phèn (xì phèn), sản sinh liên tục các độc chất, hình thành nên tầng phèn màu vàng trấu còn gọi là Jarosite [KFe3(SO4)2(OH)6] và trồi lên cả tầng mặt gây chết cây. Nguyên tắc quản lý nước trên đất phèn trồng lúa: Từ các phần đã trình bày ở trên, việc quản lý nước trên đất phèn trồng lúa đòi hỏi kỹ thuật “ém phèn tầng sâu, rửa phèn tầng mặt” gọi tắt là “đáy ướt, mặt khô”. Chính vì vậy, trong trường hợp trồng lúa trên đất phèn cứ ém hoài một lớp nước trên mặt cũng không có lợi, làm tăng quá trình khử, tăng Fe2+ và H2S cây dễ bị tiêm, lụi, hệ thống rễ phát triển kém, có nhiều rễ đen hoặc rễ bị thối, cây dễ nhiễm bệnh. Trong trường hợp “đáy khô, mặt khô”, đất nứt nẻ sẽ bị hiện tượng xì phèn, cây sẽ bị ngộ độc nhôm, sắt và chết. Lợi dụng nguồn nước thiên nhiên tối đa, khi nước lũ về nên cày ngâm lũ, xả phèn là rất tốt. Lợi dụng nước triều lên, lấy nước vô và triều rút tháo nước ra đễ xả phèn. Trên đất phèn chỉ nên để ruộng khô đến giới hạn cho phép (nứt chân chim) lúc đó lớp mặt khô nhưng lớp dưới còn ẩm, giải quyết được 2 nhiệm vụ: tăng cường sự khoáng hóa các chất hữu cơ trên lớp mặt nhưng vẫn đảm bảo ém phèn tầng sâu, giảm độc chất của quá trình khử H2S, Fe2+, giúp tăng các chất dễ tiêu, tăng độ phì thực tế cho đất. 2./ Biện pháp chọn giống: “ Phương châm Đất nào cây ấy” Cần chọn giống chống chịu phèn, đẻ nhánh khỏe, có phẩm chất tốt (dễ bán), có thời gian sinh trưởng phù hợp với cơ cấu giống trong vùng, tránh ló đầu, ló đuôi sẽ bị chim chuột ăn hết, nên sử dụng giống thích nghi tốt với vùng sinh thái (đã trồng rồi, thử nghiệm rồi, cho kết quả tốt), nên dùng giống xác nhận để gieo trồng. Các giống lúa chịu phèn gồm có: Ngắn ngày: AS996, VNĐ95-20, OM6976, OM7262, OM5629, OM2517, OM5451, OM4218, OM4900, GKG1, OM7347, ĐTM126, Nàng Hoa 9, HR182, BTE-1, MTL560, OM3536, , OM2395, IR50404, Trung và dài ngày: Một Bụi Đỏ, ST5, IR42 (NN4B), OM723-7, OM1348, OM1352, Tép hành đột biến , OM57-6. 3./ Biện pháp hóa học: Cần lưu ý là trong các biện pháp cải tạo đất phèn (hay còn gọi quản lý đất phèn có hiệu quả) biện pháp sử dụng nước để ém phèn tầng sâu và dùng nước ngọt để rửa phèn tầng mặt là có hiệu quả hơn cả. Kế đến mới là biện pháp chọn giống và bón phân. Do vậy trước khi bón phân hãy nghĩ đến việc xả phèn (tháo nước cũ, đưa nước mới vào) sẽ làm tăng hiệu quả của phân bón đáng kể. Trên đất phèn nên bón vôi trước khi trồng 15-20 ngày (300-500kg/ha) Tăng cường bón lân: ưu tiên là lân nung chảy Văn Điển (có hiệu quả cao trên đất phèn), vụ Hè Thu cần tăng lượng lân 20-30% so với vụ Đông Xuân. Nên lót: 200-400 kg lân Văn Điển (tùy độ phèn của đất) – bón bổ sung đợt 1 (7-10NSS) và đợt 2 (18-22NSS) bằng các dạng lân dễ tiêu như DAP, Lân Super, Đầu Trâu 46P+ (liều lượng bổ sung này tùy theo sinh trưởng thực tế của ruộng lúa) Lưu ý Không bón thừa N Có thể tăng cường bón Silic + phân hữu cơ sẽ làm giảm tác hại của ngộ độc phèn. Lưu ý: Dù vụ nào đi nữa (Đông Xuân, Hè Thu, Thu Đông) trên đất phèn nặng hay trung bình thì phân lân (P) vẫn được coi là thành phần quan trọng nhất, quyết định cây lúa sống hay chết ngay từ đầu. Khi bón lân, một phần lân dễ tiêu được cung cấp ngay cho cây, một phần lớn lân bị kết hợp (cố định) bởi Al và Fe để thành phốt phát nhôm và phốt phát sắt khó tan cây không hấp thu được, đó là nguyên do phải bón lân cao hơn trên đất phèn (so với đất phù sa, đất xám). Công thức phân bón cho lúa trên đất phèn ở ĐBSCL như sau: 60-100N/60-80P2O5/30K2O Ghi chú: Bón N: Đất thuộc, vùng 3 vụ, canh tác vụ ĐX năng suất cao bón mức 80-100N Đất mới còn nhiều hữu cơ, vùng 2 vụ, canh tác vụ mưa bón mức 60-80N Bón lân: phèn trung bình, phèn nhẹ, canh tác Đông Xuân bón mức 60-70P2O5 Phèn nặng, canh tác vụ Hè Thu bón mức 70-80 P2O5. Bón kali: mức bón khuyến cáo là 30K2O, tập trung bón đón đòng 4./ Biện pháp canh tác: - Thời vụ: Vụ ĐX trồng sớm sẽ bị ít phèn và chất lượng nước ở đầu vụ tốt hơn, ít hao phân. Sạ càng trễ, tác hại do phèn sẽ nhiều hơn. Có thể áp dụng các biện pháp: bơm nước ra để sạ sớm hay sạ ngầm (vùng đất phèn nặng) Vụ Hè Thu cần có biện pháp né khủng hoảng phèn (lúc giao thời giữa mùa khô và mùa mưa sẽ bị xì phèn). Khuyến cáo cần lưu ý các thời vụ sau: + Vùng chủ động nước: Sạ trong tháng 4 dương lịch: trong kênh mương, phải có đủ nước để bón phân đợt 1 và đợt 2 xong trước khi bị ảnh hưởng xì phèn hay bị nước mặn xâm nhập. + Vùng không chủ động nước: đợi mưa nhiều, xả phèn 1-2 đợt, có đủ nước ngọt trong kênh mương mới tiến hành gieo sạ, sạ từ trung tuần tháng 5 đến trung tuần tháng 6 (lưu ý sử dụng giống ngắn ngày, có đê bao hay ít nhất phải có đê bao lửng để tránh lũ chụp vào cuối vụ) - Cày ải phơi đất vào cuối vụ ĐX để cắt đứt mao quản phèn Vùng phèn không cày quá sâu (không đụng đến tầng phèn), chỉ nên cày ở mức độ 15-20cm. Không bừa kỷ (bừa nhuyễn sẽ bị quến chất phèn vào trong đất, không xả phèn được) - Nên dùng nước xả phèn ra 2-3 lần trước khi trồng là rất tốt. - Có thể sử dụng chế phẩm Trichoderma để xử lý rơm rạ mau hoai mục để tránh ngộ độc hữu cơ. HƯỚNG DẪN BIỆN PHÁP XỬ LÝ NGỘ ĐỘC PHÈN “ 5 bước xử lý ngộ độc phèn” Bước 1: Thay nước mới để xả đáng kể lượng phèn trong ruộng ra, nếu ruộng gò ( bị xì phèn) thì cố gắng ém nước lên gò cho đủ ( phân lân chuẩn bị sẵn). có thể bón vôi từ 300 – 500kg/ha trước lúc bón phân lân sẽ tăng hiệu quả phân lân. Bước 2: Bón lân nung chảy ( Văn Điển hoặc Ninh Bình) hay super lân từ 200 – 400kg/ha ( tùy tình trạng ngộ độc nhẹ hay nặng) Bước 3: Xịt phân bón lá ( có chứa dinh dưỡng NPK có chứa lân nhiều như 15 – 30 – 15, hydrophos, Humate, Comcat,…). Bước 4: Chờ đợi từ 5 – 7 ngày cho đến khi nhổ lên thấy ra rễ trắng là cứu lúa đã thành công. Bước 5: Bón phân chăm sóc tiếp tục theo quy trình ( Urê, DAP, Kali,…) cho cây lúa phục hồi. Lưu ý: Khi cây lúa bị ngộ độc phèn ngưng ngay bón đạm ( urê), nếu bón vào làm lúa chết nhanh. Đỗ Lý & CB
  • Tăng cường quản lý, bình ổn thị trường nhằm đảm bảo quyền lợi của người chăn nuôi và tiêu dùng, ổn định sản xuất
    Tăng cường quản lý, bình ổn thị trường nhằm đảm bảo quyền lợi của người chăn nuôi và tiêu dùng, ổn định sản xuất
    31/12/2021 17:11
    Tăng cường quản lý, bình ổn thị trường nhằm đảm bảo quyền lợi của người chăn nuôi và tiêu dùng, ổn định sản xuất Nhằm đảm bảo quyền lợi của người chăn nuôi và tiêu dùng, ổn định sản xuất, ngày 23/12/2021, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Công văn số 4920/UBND-KT về việc tăng cường quản lý, bình ổn thị trường nhằm đảm bảo quyền lợi của người chăn nuôi và tiêu dùng, ổn định sản xuất. UBND tỉnh Bình Thuận đã giao cho các cơ quan đơn vị thực hiện như sau: Yêu cầu Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: Triển khai rà soát, tổng hợp số lợn hiện nay đang còn tồn đọng và dự kiến sản lượng thịt lợn tiêu thụ trong và ngoài tỉnh từ nay đến cuối năm 2021 và Tết Nguyên đán năm 2022 để có kế hoạch phối hợp với Sở Công Thương, các địa phương và các doanh nghiệp đẩy mạnh thu mua, chế biến, hỗ trợ tiêu thụ đối với lượng thịt lợn dư thừa. Đồng thời, xây dựng giải pháp đẩy mạnh tiêu thụ, sử dụng sản phẩm thịt trên địa bàn tỉnh để giảm bớt khó khăn đối với người chăn nuôi lợn trên địa bàn tỉnh. Xây dựng kế hoạch tái đàn, chăn nuôi theo tín hiệu thị trường, đảm bảo cân bằng cung cầu, đảm bảo giá lợn ở mức hợp lý không tạo ra dư thừa, thiệt hại cho người chăn nuôi, đặc biệt trong dịp cuối năm và Tết Nguyên đán. Giao Sở Công Thương: Theo dõi sát diễn biến giá cả thị trường, cung cầu mặt hàng thịt lợn, kịp thời đề xuất các giải pháp đảm bảo cân đối cung cầu nhằm bình ổn giá hỗ trợ kết nối cung ứng, tiêu thụ sản phẩm thịt lợn trên địa bàn tỉnh khi thị trường có biến động. Phối hợp với các lực lượng chức năng tăng cường kiểm tra, giám sát thị trường để ngăn chặn hiện tượng đầu cơ trục lợi khi giá lợn hơi giảm sâu nhưng giá bán lẻ còn quá cao nhất là dịp cuối năm 2021 và dịp Tết Nguyên đán năm 2022 làm ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống nhân dân. Vận động, khuyến khích các cơ sở chăn nuôi lợn cân đối số lượng, ưu tiên xuất bán cho các đơn vị thu mua lợn thịt của các hộ chăn nuôi tham gia bình ổn tại địa bàn tỉnh đảm bảo đầy đủ, kịp thời dịp cuối năm 2021 và Tết Nguyên đán năm 2022. Đồng thời, thường xuyên hướng dẫn, kiểm tra công tác phòng, chống dịch COVID-19 tại các chợ truyền thống, chợ đầu mối, siêu thị, nhà phân phối đúng quy định để kịp thời tổ chức tiêu thụ đồng bộ, có hiệu quả chuỗi cung ứng thịt lợn. Giao Sở Giao thông vận tải: Tổ chức giao thông, bảo đảm hệ thống giao thông vận tải trên địa bàn tỉnh thông suốt, tạo điều kiện thuận lợi cho việc vận chuyển thực phẩm, nông sản phục vụ sản xuất và tiêu thụ. Hướng dẫn, kiểm tra việc vận chuyển, lưu thông hàng hóa trên địa bàn tỉnh thông suốt và bảo đảm an toàn về phòng, chống dịch, không để xảy ra ách tắc, không để đứt gãy chuỗi cung ứng hàng hóa. Giao Ban Chỉ đạo 389 tỉnh: Chỉ đạo các cơ quan liên quan tăng cường kiểm tra, kiểm soát thị trường trong đó có mặt hàng thịt lợn, nhằm ngăn chặn việc vận chuyển, kinh doanh thịt lợn không rõ nguồn gốc, xử lý và giám sát chặt chẽ việc đầu cơ, trục lợi. Đề nghị Ngân hàng Nhà nước - Chi nhánh Bình Thuận: Trên cơ sở các quy định hiện hành và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, phí, giữ nguyên nhóm nợ, Ngân hàng Nhà nước - Chi nhánh Bình Thuận chỉ đạo các Tổ chức tín dụng trên địa bàn chủ động triển khai, hỗ trợ tạo điều kiện trong tiếp cận vốn tín dụng cho các hộ gia đình, hợp tác xã, doanh nghiệp hoạt động chế biến, giết mổ, chăn nuôi trên địa bàn tỉnh. Sở Thông tin và Truyền thông, Đài Phát thanh - Truyền hình Bình Thuận, Báo Bình Thuận: Tăng cường hoạt động truyền thông về giá cả thị trường, tránh tình trạng thiếu thông tin về thị trường, gây bất ổn thị trường, tăng cường thông tin đến người tiêu dùng đối với thị trường, giá cả mặt hàng thịt lợn. Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố: Tăng cường kiểm tra, rà soát số lượng đàn lợn tới thời điểm xuất chuồng còn tồn đọng trong dân để có giải pháp hỗ trợ tiêu thụ tăng cường công tác quản lý thị trường kiểm soát giá cả về thức ăn chăn nuôi và niêm yết giá thịt lợn bán tại các chợ, tránh trường hợp lợi dụng ép giá người chăn nuôi. Chủ động xây dựng kế hoạch sản xuất, tiêu thụ, không để đứt gẫy chuỗi sản xuất, bảo đảm ổn định đời sống nhân dân và thúc đẩy tăng trưởng. Thực hiện các biện pháp cân đối cung, cầu, ổn định giá thịt lợn ở mức hợp lý tại địa phương tăng cường hoạt động truyền thông về giá cả thị trường, tránh tình trạng thiếu thông tin về thị trường, gây bất ổn thị trường, tăng cường thông tin đến người tiêu dùng đối với thị trường, giá cả mặt hàng thịt lợn. Tổ chức giám sát, kịp thời phát hiện, ngăn chặn và xử lý nghiêm các trường hợp buôn bán, vận chuyển trái phép động vật, sản phẩm động vật nhập vào địa phương. Tổ chức, vận động các cơ sở giết mổ tại các địa phương ưu tiên thu mua sản phẩm chăn nuôi của các hộ dân trên địa bàn tỉnh. QT
  • “Trung tâm giao dịch nông sản” có giảm nỗi lo ùn ứ ở cửa khẩu
    “Trung tâm giao dịch nông sản” có giảm nỗi lo ùn ứ ở cửa khẩu
    31/12/2021 17:09
    “Trung tâm giao dịch nông sản” có giảm nỗi lo ùn ứ ở cửa khẩu Trong những ngày cuối năm 2021, nỗi lo về đầu ra hàng hóa nông sản khi tết Nguyên đán 2022 đã cận kề, với hàng nghìn xe hàng đang mắc kẹt chờ thông quan. Ban Biên tập tổng hợp trích dẫn bài viết về suy nghĩ, tâm tư của Bộ Trưởng Bộ NN&PTNT trong chuyến làm việc với tỉnh Quảng Ninh, giải cứu đầu ra hàng hóa ùn tắc tại cửa khẩu. Theo Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT Lê Minh Hoan, nếu khu vực cửa khẩu được đầu tư cơ sở hạ tầng, logistics tốt, người dân sẽ mạnh dạn đưa nông sản lên biên giới. "Chính phủ và Bộ NN-PTNT rất quan tâm tới tình trạng ùn ứ nông sản ở khu vực cửa khẩu. Tôi đã làm việc với tỉnh Quảng Ninh, và cơ bản thống nhất chủ trương xây dựng Trung tâm Giao dịch nông, lâm, thủy sản tại phường Hải Yên, TP. Móng Cái", Bộ trưởng Lê Minh Hoan phát biểu trong buổi làm việc với UBND Quảng Ninh ngày 28/12. Theo người đứng đầu ngành nông nghiệp, bà con nông dân hiện có tâm lý e ngại đưa hàng lên cửa khẩu để giao dịch trực tiếp với thương lái Trung Quốc. Ông cho rằng nguyên nhân nằm ở chỗ, bất cứ sự cố đứt gãy nào trong chuỗi giá trị đều sẽ gây ra rủi ro cho bà con. Vì vậy, người dân chấp nhận bán nông sản rẻ tại ruộng cho thương lái Trung Quốc. Bên cạnh nhận thức, Bộ trưởng Lê Minh Hoan đánh giá, việc xây dựng một trung tâm giao dịch nông sản tại địa phương có cửa khẩu xuất phát từ yêu cầu thực tiễn. Thời gian qua, tình trạng ùn ứ nông sản diễn ra liên tục, đặc biệt là trên địa bàn Lạng Sơn. Đây không phải hiện tượng nhất thời, mà lặp đi lặp lại hàng năm. "Nếu không giải quyết gấp vấn đề, người dân sẽ rơi vào tâm lý là càng sản xuất càng rủi ro", Bộ trưởng nêu vấn đề. Ông cũng nhìn nhận, rằng biện pháp tháo gỡ căn cơ phải xuất phát từ việc đầu tư bài bản cơ sở hạ tầng, giao thông và logistics. Tinh thần này của Bộ NN-PTNT được Thủ tướng hoan nghênh, và Bộ được giao nhiệm vụ chủ trì, phối hợp tỉnh xây dựng một mô hình thí điểm. Trên cơ sở đó, Bộ NN-PTNT sẽ phối hợp với các địa phương khác như Lạng Sơn, Lào Cai... để tổ chức các cơ sở tương tự. Tham luận tại buổi làm việc, đơn vị tư vấn xây dựng trung tâm giao dịch cho Quảng Ninh cho biết, vị trí xây dựng công trình nằm ở đầu cầu phao Km3+Km4 sông Ka Long, phường Hải Yên. Trung tâm gồm các hợp phần: Khu làm việc cho liên ngành cửa khẩu và khu nhà điều hành Hệ thống kho khô, kho lạnh, kho ngoại quan chứa hàng, bến bãi hàng hóa chờ xuất khẩu, nhập khẩu... Hệ thống kinh doanh dịch vụ tổng hợp gồm hệ thống ki-ốt trưng bày sản phẩm kết hợp văn phòng làm việc cho doanh nghiệp, khu văn phòng cho ngân hàng Khu phức hợp phục vụ các hoạt động tổ chức hội nghị hội thảo, xúc tiến thương mại. Trên quy mô 95,3 ha, trung tâm sẽ được xây dựng qua hai giai đoạn: 2022-2025 và 2025-2030. Lắng nghe báo cáo của Quảng Ninh, Bộ trưởng Lê Minh Hoan hoan nghênh tinh thần chủ động của tỉnh, đồng thời nhấn mạnh: Việc xây dựng trung tâm giao dịch không phải nhiệm vụ riêng của Bộ NN-PTNT hay Bộ Công thương, mà là giúp ích cho Quảng Ninh, tạo tiền đề cho các giải pháp tháo gỡ ùn tắc nông sản. "Đây là mô hình không mới, nhưng tích hợp được những giá trị cũ để tạo ra một sức sống mới. Ý nghĩa sâu xa của trung tâm là giúp người dân bỏ được tư duy xuất khẩu theo đường tiểu ngạch. Nếu làm được, bà con sẽ không còn bỡ ngỡ khi đưa nông sản ra những thị trường như Mỹ, châu Âu", Bộ trưởng Lê Minh Hoan bày tỏ. Nếu phát huy trọn vẹn được giá trị của trung tâm giao dịch, lãnh đạo Bộ NN-PTNT tin người dân sẽ mạnh dạn đưa hàng lên cửa khẩu, trực tiếp đàm phán với doanh nghiệp Trung Quốc, thậm chí đưa nông sản chạy thẳng lên Bắc Kinh, Thượng Hải trong tương lai. Ngô Đồng
Tổng số : 451 bài viết
Trang
12345678910Tiếp