Đang online: 14
Hôm nay: 317
Trong tuần: 317
Trong tháng: 3554
Tổng truy cập: 494942
  • Hội nghị giao ban xúc tiến thương mại với Thương vụ Việt Nam ở nước ngoài tháng 1 năm 2023
    Hội nghị giao ban xúc tiến thương mại với Thương vụ Việt Nam ở nước ngoài tháng 1 năm 2023
    01/02/2023 08:26
    Hội nghị giao ban xúc tiến thương mại với Thương vụ Việt Nam ở nước ngoài tháng 1 năm 2023 Ngày 31/1/2023, Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp tổ chức “Hội nghị giao ban xúc tiến thương mại với hệ thống Thương vụ Việt Nam ở nước ngoài tháng 1/2023”. Đây là hội nghị đầu tiên trong năm 2023 thuộc chuỗi chương trình “Hội nghị giao ban xúc tiến thương mại với hệ thống Thương vụ Việt Nam ở nước ngoài” được Bộ Công Thương thực hiện định kỳ hàng tháng kể từ tháng 7/2022. Buổi hội nghị được diễn ra trực tiếp tại Phòng họp 210 Nhà B, 54 Hai Bà Trưng, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, kết hợp trực tuyến trên Zoom. Với sự tham gia của đại diện Thương vụ Việt Nam tại nước ngoài ở một số thị trường, đại diện các Hiệp hội ngành hàng trong nước. Hội nghị do Bộ trưởng Nguyễn Hồng Diên chủ trì thể hiện sự quan tâm đặc biệt của lãnh đạo Bộ trong lĩnh vực xúc tiến thương mại. Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho cho hơn 500 đại biểu từ các cơ quan ở Trung ương và hệ thống Thương vụ Việt Nam tại nước ngoài, đại diện Sở Công Thương, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, cùng với các Hiệp hội ngành hàng, doanh nghiệp các tỉnh, thành phố và các cơ quan thông tấn, báo chí tham dự. Riêng điểm cầu tại Bình Thuận có đại diện các cơ quan thuộc Sở Công Thương, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và các doanh nghiệp, Hợp tác xã đăng ký tham gia,… Bộ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Hồng Diên phát biểu chỉ đạo Hội nghị Chương trình Hội nghị kỳ tháng 1/2023 bao gồm 2 nội dung chính: thứ nhất dành cho đại diện các Thương vụ Việt Nam tại nước ngoài để thông tin về những diễn biến mới nhất ở thị trường sở tại cũng như các chính sách, quy định thay đổi trong thời gian gần đây. Nội dung thứ hai dành cho đại diện Hiệp hội các cơ quan địa phương, Trung tâm Xúc tiến đầu tư, thương mại,… thảo luận về những khó khăn, thuận lợi, đề xuất nhu cầu hỗ trợ và các sáng kiến liên quan đến việc thực hiện hoạt động xúc tiến thương mại, xuất nhập khẩu với các thị trường nước ngoài của các địa phương, hiệp hội và doanh nghiệp. Toàn cảnh Hội nghị Theo số liệu của Tổng cục Hải quan, tổng trị giá xuất nhập khẩu của cả nước tháng 1/2023, giảm 17,3% so với tháng trước. Kim ngạch nhập khẩu giảm 13,6%, so với tháng trước. Nhập khẩu giảm 21.3% so với tháng trước. Việc giảm về con số do tháng 1 này trong nước nghỉ Tết dương lịch và Tết Nguyên đán kéo dài, mặt khác kinh tế thế giới khó khăn, nhu cầu tiêu dùng giảm, dẫn tới đơn hàng mới giảm. Ông Lưu Vạn Khang – Tham tán thương mại, thương vụ Việt Nam tại Mexico Ông Ngô Mạnh Khôi – Phụ trách Thương vụ Việt Nam tại Achentina Theo dự báo tình hình thế giới tiếp tục diễn biến rất phức tạp, cạnh tranh chiến lược các nước lớn, cạnh tranh kinh tế, chiến tranh thương mại gay gắt hơn, xung đột quân sự tại Ukraine còn có thể kéo dài, hậu quả đại dịch Covid-19 trên toàn cầu còn phải khắc phục nhiều năm, lạm phát tiếp tục ở mức cao, bất ổn về tài chính, tiền tệ, nợ công, an ninh năng lượng, lương thực, thông tin trên toàn cầu gia tăng. Kinh tế toàn cầu có xu hướng tăng trưởng chậm lại, một số quốc gia có dấu hiệu rơi vào suy thoái kinh tế. Trong nước, nền kinh tế có những thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức nhiều hơn. Sức ép lạm phát, tỷ giá, lãi suất gia tăng sản xuất kinh doanh tiếp tục đối mặt với nhiều thách thức các thị trường xuất, nhập khẩu lớn, truyền thống của Việt Nam bị thu hẹp. Chính vì vậy, trong thời gian tới, lãnh đạo Bộ Công Thương, hệ thống cơ quan Thương vụ Việt Nam ở nước ngoài sẽ tiếp tục phối hợp với các cơ quan liên quan trong nước phát huy tốt hơn nữa công tác xúc tiến thương mại, phát triển thị trường xuất khẩu, để đồng hành cùng các địa phương, hiệp hội và doanh nghiệp góp phần gia tăng giá trị xuất khẩu trong nước. QT
  • Triển khai Nghị định thư về xuất khẩu sản phẩm tổ yến từ Việt Nam sang Trung Quốc trên địa bàn tỉnh Bình Thuận
    Triển khai Nghị định thư về xuất khẩu sản phẩm tổ yến từ Việt Nam sang Trung Quốc trên địa bàn tỉnh Bình Thuận
    17/01/2023 14:51
    Triển khai Nghị định thư về xuất khẩu sản phẩm tổ yến từ Việt Nam sang Trung Quốc trên địa bàn tỉnh Bình Thuận Nghị định thư về yêu cầu kiểm dịch, kiểm tra và vệ sinh thú y đối với sản phẩm tổ yến xuất khẩu từ Việt Nam sang Trung Quốc (gọi tắt là Nghị định thư) đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Tổng cục Hải quan Trung Quốc (TCHQ Trung Quốc) ký và có hiệu lực từ ngày 09/11/2022 (gửi kèm theo). Đây là cơ hội và động lực quan trọng để ngành yến Việt Nam phát triển, đảm bảo ổn định đầu ra cho sản phẩm, mang lại lợi ích kinh tế rất cao. Để tổ chức triển khai kịp thời, có hiệu quả các nội dung của Nghị định thư, cũng như để xây dựng, phát triển ngành yến của tỉnh Bình Thuận bền vững, đáp ứng yêu cầu của Trung Quốc, cũng như các thị trường tiềm năng khác đồng thời thực hiện Công văn số 4230/UBND-KT ngày 12/12/2022 của UBND tỉnh triển khai thực hiện Công văn số 8107/BNN-TY ngày 01/12/2022 của Bộ Nông nghiệp và PTNT. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành Công văn số 33/SNN-CCCNTY ngày 05/01/2023 về việc Nghị định thư về xuất khẩu sản phẩm tổ yến từ Việt Nam sang Trung Quốc. Theo đó, đã đề nghị Sở Công Thương, Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố và yêu cầu Chi cục Chăn nuôi và Thú y triển khai thực hiện các nội dung sau: Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố: - Phối hợp với Sở Nông nghiệp và PTNT rà soát, đánh giá và đề nghị Cục Chăn nuôi cấp mã số cho các nhà nuôi chim yến hiện có trên địa bàn, bảo đảm phù hợp với quy định hiện hành và đáp ứng yêu cầu của nước nhập khẩu. Phối hợp với Sở Nông nghiệp và PTNT, Sở Công Thương xây dựng kế hoạch tổ chức sản xuất các sản phẩm tổ yến đã qua chế biến nhầm đáp ứng yêu cầu và được phép xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc tổ chức triển khai nội dung Nghị định thư đến các cơ sở sản xuất, kinh doanh, chế biến sản phẩm tổ yến tại địa phương nhằm quản lý để các cơ sở biết, nghiên cứu quy định và có kế hoạch sản xuất đáp ứng yêu cầu xuất khẩu sang Trung Quốc. - Chỉ đạo tổ chức tốt công tác quản lý nuôi chim yến, phòng, chống dịch bệnh trên chim yến tại địa bàn quản lý và tạo điều kiện hỗ trợ xuất khẩu sản phẩm tổ yến. Tổ chức phòng, chống có hiệu quả các loại dịch bệnh trên gia cầm (Cúm gia cầm, Newcastle,...) để ngăn chặn nguy cơ lây lan dịch bệnh sang đàn chim yến trên địa bàn chỉ đạo các cơ quan chuyên môn của huyện phối hợp với Chi cục Chăn nuôi và Thú y chủ động tổ chức giám sát, phát hiện sớm các ổ dịch Cúm gia cầm, Newcastle… để kịp thời cảnh báo và xử lý triệt để các ổ dịch mới phát sinh, không để lây lan diện rộng tổ chức xử lý tiêu hủy gia cầm mắc bệnh, nghi mắc bệnh, chết. Sở Công Thương: Phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xây dựng kế hoạch tổ chức sản xuất các sản phẩm tổ yến đã qua chế biến nhầm đáp ứng yêu cầu và được phép xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc tổ chức triển khai nội dung Nghị định thư đến các cơ sở sản xuất, kinh doanh, chế biến sản phẩm tổ yến trên địa bàn tỉnh để các cơ sở biết, nghiên cứu quy định và có kế hoạch sản xuất đáp ứng yêu cầu xuất khẩu sang Trung Quốc. Nhà yến và sản phẩm yến thô được xây dựng và khai thác tại huyện Hàm Thuận Bắc Tổ yến đã được sơ chế thành phẩm Yêu cầu Chi cục Chăn nuôi và Thú y: Khẩn trương tham mưu Sở Nông nghiệp và PTNT ban hành kế hoạch tổ chức sản xuất các sản phẩm tổ yến đã qua chế biến nhầm đáp ứng yêu cầu và được phép xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc. Các Doanh nghiệp kinh doanh, chế biến sản phẩm tổ yến trên địa bàn tỉnh: Nghiên cứu kỹ các quy định của Trung ương và của tỉnh, các nội dung của Nghị định thư để có kế hoạch cụ thể, tổ chức sản xuất các sản phẩm tổ yến đã qua chế biến nhầm đáp ứng yêu cầu và được phép xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc. Chủ động rà soát, đầu tư nâng cấp các điều kiện của chuỗi cơ sở sản xuất, chế biến bảm đảo đáp ứng yêu cầu xuất khẩu. Xây dựng hệ thống quản lý thông tin, truy xuất nguồn gốc sản phẩm, bảo đảm có thể truy xuất từ nhà nuôi chim yến đến sản phẩm xuất khẩu. Chuẩn bị hồ sơ, thông tin, dữ liệu để đăng ký doanh nghiệp xuất khẩu theo yêu cầu của Trung Quốc và hướng dẫn của Cục Thú y./. Kèm theo Nghị định thư QT
  • Cần hiểu biết đúng về thuốc bảo vệ thực vật
    Cần hiểu biết đúng về thuốc bảo vệ thực vật
    30/12/2022 11:39
    Cần hiểu biết đúng về thuốc bảo vệ thực vật Có thể nói, tại Bình Thuận đối tượng cây trồng sử dụng nhiều phân bón, thuốc BVTV nhất vẫn là thanh long với hơn 30.000 ha việc sử dụng thuốc BVTV như cơ quan chức năng khuyến cáo, ngoài ra bà con cần hiểu đúng về phân loại, phương thức hoạt động… Phân loại thuốc BVTV và phương thức hoạt động Thuốc BVTV được chia theo mục đích sử dụng. Có ba nhóm chính bao gồm thuốc diệt cỏ, thuốc trừ sâu, thuốc trừ nấm mốc và một số loại khác như thuốc diệt nhuyễn thể, thuốc điều hòa sinh trưởng, thuốc diệt các loài gặm nhấm. Thuốc trừ cỏ: Sử dụng thuốc diệt cỏ để diệt cỏ dại và các loài cây không mong muốn. Thuốc BVTV hoạt động như là một chất ức chế trong quá trình tổng hợp amino acid, là những khối xây dựng cho thực vật sinh trưởng và phát triển. Một loại nữa là ức chế việc phân chia tế bào. Chúng phản ứng với tubulin, một loại protein cần thiết trong việc hình thành bộ khung tế bào trong các tế bào nhân thực và hình thành các vi ống. Thuốc BVTV cũng được sử dụng để ngăn chặn quá trình quang hợp trong cây bởi tạo ra các gốc tự do, làm tắc nghẽn sự vận chuyển các electron. Thuốc trừ sâu: Là một loại chất được sử dụng để chốn côn trùng. Chúng bao gồm các thuốc diệt trứng và thuốc diệt ấu trùng để diệt trứng và ấu trùng của côn trùng. Các loại thuốc trừ sâu được sử dụng trong nông nghiệp, y tế, công nghiệp và gia đình. Việc sử dụng thuốc trừ sâu được cho là một trong các yếu tố chính dẫn tới sự gia tăng sản lượng nông nghiệp hiện nay. Gần như tất cả các loại thuốc trừ sâu đều có nguy cơ làm thay đổi lớn các hệ sinh thái nhiều loại thuốc trừ sâu độc hại với con người và các loại khác tích tụ lại trong chuỗi thức ăn. Thuốc trừ sâu có thể được phân thành hai nhóm chính: thuốc trừ sâu ngấm từ rễ - có dư lượng và hiệu quả lâu dài, và thuốc trừ sâu tiếp xúc - không có dư lượng. Ngoài ra có thể phân loại thuốc trừ sâu thành ba loại như sau: 1. Thuốc trừ sâu tự nhiên, chẳng hạn như chiết xuất nicotine, pyrethrum và neem được tạo ra bởi thực vật như là sự bảo vệ giúp chống lại sâu hại. 2. Thuốc trừ sâu vô cơ, chính là kim loại và 3. Thuốc trừ sâu hữu cơ, là các hợp chất hoá học hữu cơ, chủ yếu hoạt động khi tiếp xúc. Có thể phân loại thuốc trừ sâu dựa trên phương thức hoạt động của chúng. Phương thức hoạt động mô tả cách thức thuốc trừ sâu vô hiệu hoá sâu hại, phương thức hoạt động cũng đóng vai trò rất quan trọng trong việc xác định xem một loại thuốc trừ sâu có gây độc hại hay không tới các loài không liên quan chẳng hạn như cá, chim, hay động vật có vú. Thuốc trừ sâu có thể là thuốc chống hoặc không chống côn trùng. Các côn trùng thông thường như kiến không thể phát hiện ra các loại thuốc diệt không có tính chống và dễ dàng bò qua chúng. Khi chúng trở về tổ, chúng mang theo thuốc diệt trên người và truyền qua cho các con khác và cả con đầu đàn. Biện pháp này lâu hơn các biện pháp khác nhưng lại loại bỏ hoàn toàn cả đàn. Thuốc trừ sâu khác với thuốc chống côn trùng - các loại thuốc chỉ xua đuổi côn trùng chứ không diệt chúng. Thuốc trừ nấm: Mục tiêu chính của thuốc diệt nấm là nhóm sulfurhydryl (-SH), là nhóm hoạt động của nhiều enzyme. Việc ức chế cũng có thể xảy ra bởi sự hình thành phức chất của hóa chất hoạt hóa với các enzyme chứa kim loại. Hơn nữa, chúng có thể ức chế sự tổng hợp ergosterol trong nấm mốc. Ảnh hưởng của thuốc BVTV đối với môi trường Việc sử dụng thuốc BVTV ngày càng tăng trong ngành nông nghiệp đã làm cho môi trường nước, không khí và đất ngày càng ô nhiễm. Mặc dù một lượng lớn thuốc BVTV được sử dụng, khoảng 1% thuốc BVTV có thể ảnh hưởng đến mục tiêu, còn lại phát tán vào môi trường. Một vài thuốc BVTV gốc clo như dichlorodiphenyltrichloroethane (DDT), hexachlorohexane (HCH), endosulfan rất ổn định trong môi trường. Chúng có thể tồn tại trong môi trường từ vài tháng đến vài năm. Các hợp chất này có thể tích tụ sinh học và đạt đến ngưỡng độc hại của chúng. Thật vậy, sử dụng liên tục thuốc trừ sâu sẽ làm mất sự đa dạng sinh học và hệ thống sinh thái. Ảnh hưởng của thuốc BVTV lên sức khỏe con người Con người tiếp xúc trực tiếp với thuốc BVTV thông qua hoạt động nghề nghiệp, nông nghiệp, công việc nhà hoặc không trực tiếp thông qua thực phẩm. Da, miệng, mắt, thở là bốn con đường phổ biến mà thuốc BVTV có thể xâm nhập vào cơ thể con người. Sự phơi nhiễm liên tục với thuốc trừ sâu đã dẫn đến với nhiều loại bệnh khác nhau trên con người bao gồm khả năng gây ung thư, gây độc cho hệ thần kinh, khả năng sinh sản, trao đổi chất và phát triển của con người. Tiếp xúc với da: Tiếp xúc với da là con đường hiệu quả và phổ biến khi con người tiếp xúc với thuốc BVTV. Nông dân phơi nhiễm với thuốc BVTV trong suốt quá trình chuẩn bị và phun dung dịch thuốc. Các phương pháp xử lý như trộn, lắc, phun, và vệ sinh dụng cụ phun thuốc làm hấp thụ thuốc BVTV trên da. Tính độc hại của thuốc đối với da còn phụ thuộc vào thời gian phơi nhiễm, cấu trúc và nơi cơ thể bị nhiễm. Sự hấp thụ của dung dịch thuốc trừ sâu chứa dung môi hay dầu trên da nhanh hơn dạng khô. Thêm nữa, lượng thuốc BVTV được hấp thụ phụ thuộc vào vị trí trên cơ thể. Tay là phần dễ bị nhiễm thuốc BVTV nhất. Tiếp xúc bằng miệng: Các bệnh, vết thương nguy hiểm, thậm chí là chết được gây ra bởi sự xâm nhập của thuốc BVTV vào cơ thể thông qua việc tiếp xúc bằng miệng. Việc sử dụng có mục đích và tình cờ bởi con người gây ra sự ngộ độc nguy hiểm. Ví dụ, các cá nhân hút thuốc hoặc ăn thực phẩm mà không rửa tay sau khi phun thuốc trừ sâu. Hơn nữa, thuốc BVTV có thể bị uống nhầm do chai đựng thuốc với nhãn hiệu sai sau khi chuyển thuốc sang một chai khác. Trong một vài trường hợp, con người bị ngộ độc bởi việc uống thuốc trừ sâu nhằm mục đích tự tử. Sau khi uống thuốc, thuốc xâm nhập vào cơ thể, đi đến đường tiêu hóa thông qua hệ thống ruột. Ngay lập tức, chúng phân tán trong toàn bộ cơ thể thông qua dòng máu và gây độc đến con người. Tiếp xúc qua đường hô hấp: Hít phải thuốc trừ sâu bằng mũi, họng có thể gây ra những vấn đề nghiệm trọng đối với sức khỏe con người thông qua mô phổi. Sự hấp thụ nhanh hơi và các hạt nhỏ thuốc trừ sâu trong quá trình phun làm tăng việc phơi nhiễm thông qua đường hô hấp. Mức độ ngộ độc có thể được làm giảm bằng cách pha loãng dung dịch phun và phun ở áp suất thấp do tạo ra các giọt dung dịch lớn hơn. Ngược lại, thiết bị phun tạo ra áp suất cao, thể tích siêu nhỏ và hình thành hơi sương làm tăng mức độ ngộ độc do sự xâm nhập các hạt nhỏ vào cơ thể con người. Tiếp xúc qua mắt: Thuốc BVTV sở hữu mối nguy hiểm tiềm ẩn đối với mắt thông qua sự hấp thụ nhanh xuyên qua màng mắt. Mối nguy này phụ thuộc vào kích cỡ và khối lượng của các phân tử riêng lẻ. Khi người phun sử dụng thiết bị mạnh để phun, khuấy dung dịch thuốc trừ sâu, chúng có thể tung lên và gây nguy hại đối với mắt cũng như việc ngộ độc. Một số nguyên tắc an toàn trong sử dụng thuốc BVTV Để thuốc BVTV phát huy tối đa hiệu quả phòng trừ đối tượng gây hại thì nhà nông cần phải tuân thủ nguyên tắc 4 đúng: Đúng thuốc - Đúng liều - Đúng lúc - Đúng cách. * Ngoài ra, khi sử dụng thuốc BVTV còn phải chú ý đến các nguyên tắc về an toàn sử dụng thuốc như là: a) Thuốc phải được cất giữ nơi cao có khóa cẩn thận xa tầm với của trẻ em. b) Đọc kỹ nhãn thuốc trước khi dùng. Chỉ dùng thuốc khi đã được đăng ký chính thức (ghi trên nhãn). d) Mang dụng cụ bảo hộ lao động khi tiếp xúc với thuốc như khẩu trang, găng tay, kính bảo hộ. Cần lưu ý đặc biệt cho thuốc xử lý hạt giống. e) Cẩn thận khi pha thuốc để tránh thuốc tiếp xúc vào da, mắt, ... g) Kiểm tra bình phun trước khi sử dụng. Nên rửa bình phun kỹ trước và sau khi sử dụng. h) Không phun ngược chiều gió. i) Không ăn, uống trong khi tiếp xúc với thuốc. k) Tắm rửa sạch sau khi tiếp xúc với thuốc. l) Thu gom bao bì đã qua sử dụng, không vứt bừa bãi, đặc biệt là ở nơi gần nguồn nước. Để bảo vệ sức khỏe cho cộng đồng, việc tăng cường công tác quản lý, kiểm soát chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm là nhiệm vụ cần thiết. Hoạt động thử nghiệm có vai trò rất quan trọng nhằm kiểm soát quá trình sản xuất, đánh giá chất lượng sản phẩm tăng cường quản lý, phòng ngừa, hạn chế ảnh hưởng tồn dư của thuốc BVTV, hóa chất trong thực phẩm. Đỗ Lý
  • CẦN ỨNG DỤNG CHẾ PHẨM VI SINH ĐỂ XỬ LÝ RƠM, GỐC RẠ VÀ PHỤ PHẨM HỮU CƠ
    CẦN ỨNG DỤNG CHẾ PHẨM VI SINH ĐỂ XỬ LÝ RƠM, GỐC RẠ VÀ PHỤ PHẨM HỮU CƠ
    30/12/2022 11:35
    CẦN ỨNG DỤNG CHẾ PHẨM VI SINH ĐỂ XỬ LÝ RƠM, GỐC RẠ VÀ PHỤ PHẨM HỮU CƠ Sản xuất lúa đóng vai trò rất quan trọng về an ninh lương thực, nhưng lại là ngành gây phát thải khí nhà kính lớn nhất trong nông nghiệp làm sao để vừa nâng cao hiệu quả sản xuất lúa gạo, vừa giảm phát thải khí nhà kính là vấn đề lớn với ngành lúa gạo trong thời gian tới. Theo Trần Sỹ Nam và ctv (2014), tỷ lệ rơm rạ/lúa trung bình trong vụ thu đông là 1,16, trong vụ đông xuân là 1,11. Như vậy, cứ thu hoạch 01 tấn lúa thì đồng thời cũng để lại đồng ruộng là 1,1 tấn rơm rạ cần phải có biện pháp xử lý. Nếu không có biện pháp xử lý rơm rạ thì rơm rạ sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các biện pháp canh tác cũng như sinh trưởng phát triển của cây trồng vụ tiếp theo. Đây là nguyên nhân mà việc đốt rơm rạ, hoặc xả thải rơm rạ ra môi trường gây ô nhiễm là vấn đề bức xúc trong sản xuất lúa hiện nay. Đặc biệt các vùng ven đô thị Hà Nội và các thành phố khác, tình trạng dân đốt rơm rạ sau thu hoạch đã gây cản trở giao thông, ảnh hưởng đến sinh hoạt và gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Theo số liệu nghiên cứu của FAO và Viện Nghiên cứu Môi trường Nông nghiệp cứ mỗi tấn rơm rạ khi đốt sẽ thải ra môi trường 3 kg tro bụi. Tỷ lệ rơm rạ đốt ngoài đồng trung bình ở Việt Nam khoảng 73%. Hiện nay, tổng diện tích gieo cấy lúa của cả nước ước đạt 7 triêu ha/năm. Theo Viện Nghiên cứu lúa Quốc tế (IRRI), trong 1 tấn rơm chứa 5-8 kg đạm, 1,2 kg lân, 20 kg kali, 40 kg silic và 400 kg carbon. Khi đốt 1 tấn rơm ngoài đồng, 400 kg carbon bay vào không khí, gần như toàn bộ lượng đạm có trong rơm rạ mất hết (53 kg N/ha, tương đương với hơn 100 kg phân Urê, khoảng 25% lân, 20% kali và 5- 6% lưu huỳnh). Chất silic còn lại nhưng do bị đun nóng nên cây lúa không sử dụng được. Trên đất sau khi đốt đồng, hàm lượng chất hữu cơ và khoảng 50% quần thể vi khuẩn giảm sau khi đốt đồng. Lượng dinh dưỡng có trong rơm tuy không nhiều, nhưng do khối lượng lớn nên thất thoát đáng kể. Trong những năm gần đây, việc xử lý rơn rạ sau thu hoạch lúa vẫn là vấn đề nổi cộm cần giải quyết ở hầu hết các địa phương từ cấp tỉnh, thành phố đến cấp thôn làng. Lãnh đạo địa phương các cấp đã co nhiều giải pháp nhằm hạn chế ô nhiễm do vấn đề xử lý rơm rạ sau thu hoạch, nhưng kết quả chưa khả quan. Những nguyên nhân chính dẫn đến việc chỉ đạo xử lý rơm rạ chưa đạt yêu cầu là do: (i) Các giải pháp chưa mang lại hiệu quả rõ ràng (ii) Các biện pháp gây tốn nhiều công lao động (iii) Quy trình sử dụng còn phức tạp gây khó khăn trong công tác triển khai (iv) Người nông dân chưa cảm nhận được lợi ích cụ thể từ các biện pháp. Sử dụng chế phẩm vi sinh phần nào đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn sản xuất như: (i) Quy trình sử dụng rất đơn giản và không tốn công lao động đáng kể (chỉ rải ra ruộng trước khi cày vùi rơm rạ, hoặc trộn cùng phân bón lót, phân bón thúc sớm là có thể phân hủy được rơm rạ (ii) Xử lý triệt để rơm rạ thành phân bón ngay tại ruộng giúp tiết kiệm phân bón hóa học (iii) Có tính đối kháng nguồn bệnh hại cây trong đất (iv) có khả năng hạn chế phần lớn cỏ dại mọc từ hạt. Thành phần chính của chế phẩm vi sinh gồm: các chủng vi sinh vật có khả năng tồn tại và phát triển trong cả môi trường kị khí và háo khí. Kết quả các mô hình sử dụng chế phẩm vi sinh để xử lý rơm rạ so với đối chứng đốt rơm rạ cho thấy việc sử dụng chế phẩm giảm được 2-4 lần phun thuốc BVTV mỗi vụ. Với diện tích có xử lý rơm rạ bằng chế phẩm vi sinh có thể giảm từ 20-30% lượng phân bón cho vụ tiếp theo, năng suất lúa tăng 10-20%, hiệu quả kinh tế mang lại rất rõ ràng. Trên cơ sở thực tiễn mô hình sử dụng chế phẩm vi sinh và so sánh với đối chứng, có thể tiết kiệm phân bón và thuốc BVTV ở mức thấp nhất là mỗi ha tiết kiệm 100 kg phân bón NPK tổng hợp 2 kg thuốc BVTV. Kết quả lợi ích về mặt kinh tế mang lại từ việc sử dụng chế phẩm vi sinh là đáng kể. Kết quả thực tiễn sử dụng trên diện rộng của các nơi đã sử dụng chế phẩm vi sinh đó là các vi sinh vật có khả năng phân giải nhanh chất hữu cơ, nên có thể làm cho hạt cỏ dại, hạt lúa rơi rớt lại, hạt lúa cỏ (lúa ma) bị thối trước khi nảy mầm. Do vậy, việc sử dụng chế phẩm vi sinh đúng quy trình có thể hạn chế đươc đáng kể sự gây hại của cỏ dại mọc từ hạt và đặc biệt là hạn chế được sự phát sinh gây hại của lúa cỏ (lúa ma). Có thể khẳng định rằng, các chế phẩm sinh học nói chung đã và đang đáp ứng được những đòi hỏi của ngành nông nghiệp hiện nay mong rằng sẽ được ứng dụng rộng rãi hơn vào sản xuất, tăng được hàm lượng hữu cơ cho đất, giảm thiểu được ô nhiễm không khí cho môi trường xanh, sạch. Đỗ Thị Lý
  • TÌNH HÌNH KINH TẾ NÔNG NGHIỆP THÁNG 12 VÀ NĂM 2022 TỈNH BÌNH THUẬN
    TÌNH HÌNH KINH TẾ NÔNG NGHIỆP THÁNG 12 VÀ NĂM 2022 TỈNH BÌNH THUẬN
    30/12/2022 11:32
    TÌNH HÌNH KINH TẾ NÔNG NGHIỆP THÁNG 12 VÀ NĂM 2022 TỈNH BÌNH THUẬN Sản xuất nông nghiệp năm 2022 thuận lợi về điều kiện thời tiết. Đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng, mùa vụ phù hợp với điều kiện, lợi thế của địa phương. Tình hình sâu bệnh trên cây trồng, vật nuôi không diễn biến phức tạp, chỉ xảy ra dưới dạng cục bộ và ảnh hưởng không đáng kể. Bên cạnh những thuận lợi, tình hình sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh gặp không ít khó khăn, ảnh hưởng đến kết quả sản xuất và thu nhập của người người dân giá các loại vật tư nông nghiệp vẫn ở mức cao trong khi giá đầu ra còn thấp và không ổn định làm giảm thu nhập và khả năng tái tạo vốn sản xuất của người dân. 1. Cây hàng năm - Vụ đông xuân: Diện tích gieo trồng đạt 51.029,6 ha, tăng 8,5% so với cùng kỳ năm trước. Diện tích cây lương thực đạt 42.464,9 ha, tăng 6,7% năng suất ước đạt 67,87 tạ/ha, giảm 0,8 tạ/ha sản lượng đạt 288.191 tấn, tăng 5,48% (trong đó cây lúa diện tích đạt 39.456,5 ha, tăng 8% năng suất đạt 66,8 tạ/ha, giảm 0,3 tạ/ha sản lượng đạt 263.773,9 tấn, tăng 7,6%). - Vụ hè thu: Diện tích gieo trồng đạt 60.796 ha, giảm 6,6% so với cùng kỳ năm trước (diện tích giảm chủ yếu ở cây lúa huyện Đức Linh và Tánh Linh, do một số khu vực thời tiết ít thuận lợi, chi phí sản xuất tăng cao ảnh hưởng đến lợi nhuận nên người dân giãn vụ). Diện tích cây lương thực đạt 45.323,2 ha, giảm 10,3% năng suất đạt 59,8 tạ/ha, tăng 1,7 tạ/ha so với cùng kỳ năm trước sản lượng lương thực đạt 271.059,1 tấn, giảm 6,7% (trong đó cây lúa diện tích đạt 38.483,3 ha, giảm 9,3% năng suất đạt 59,7 tạ/ha, tăng 1,8 tạ/ha sản lượng đạt 229.630 tấn, giảm 7,3%). - Vụ mùa: Diện tích gieo trồng đạt 85.798 ha, giảm 3% so với cùng kỳ năm trước (diện tích giảm chủ yếu ở cây lúa, giảm ở hầu hết các huyện trong tỉnh, đặc biệt giảm mạnh ở các huyện như Bắc Bình (giảm 700 ha), huyện Tánh Linh (giảm 437 ha), huyện Đức Linh (giảm 105 ha) do chi phí đầu vào tăng cao trong khi giá bán sản phẩm đầu ra thấp, người dân đã chủ động cắt giảm diện tích chuyển sang gieo trồng sớm cho vụ đông xuân năm sau riêng huyện Tuy Phong (giảm 185 ha) do thời điểm xuống giống muộn hơn so với năm trước. Diện tích cây lương thực đạt 47.341,4 ha, giảm 3,6% năng suất đạt 56,5 tạ/ha, tăng 0,1 tạ/ha so với vụ cùng kỳ năm trước sản lượng đạt 267.550 tấn, giảm 3,45% (trong đó cây lúa đạt 42.525,5 ha, giảm 3,6% năng suất đạt 55,6 tạ/ha, tương đương so với vụ cùng kỳ năm trước sản lượng236.550 tấn, giảm 3,5%). - Ước cả năm 2022: Tổng diện tích gieo trồng đạt 197.623 ha, giảm 1,5% so với cùng kỳ năm trước (giảm chủ yếu ở các cây lương thực, cây mía và cây lang): + Nhóm cây lương thực: Diện tích ước đạt 135.129 ha, giảm 2,7% so với cùng kỳ năm trước năng suất ước đạt 61,2 tạ/ha, tăng 0,6 tạ/ha sản lượng lương thực ước đạt 826.800 tấn, giảm 1,7% (trong đó cây lúa diện tích ước đạt 120.465 ha, giảm 2,5% năng suất đạt 60,6 tạ/ha, tăng 0,8 tạ/ha sản lượng đạt 729.914 tấn, giảm 1,1%. Cây bắp đạt 14.664 ha, giảm 4,4% năng suất đạt 66,1 tạ/ha, giảm 1,1 tạ/ha, sản lượng đạt 96.886 tấn giảm 6%). + Nhóm cây công nghiệp ngắn ngày: Diện tích cây đậu phộng ước đạt 6.187 ha, tăng 7,7% so với cùng kỳ năm trước sản lượng ước đạt 11.868,5 tấn, tăng 12,2%. Diện tích cây mè đạt 4.512,5 ha, tăng 6,3% so với cùng kỳ năm trước, sản lượng ước đạt 2.783,4 tấn, tăng 12,8%. + Nhóm cây rau, đậu các loại: Diện tích gieo trồng ước đạt 20.207 ha, tăng 2,3% so với cùng kỳ năm trước sản lượng ước đạt 129.735,5 tấn, tăng 1,7% (trong đó rau các loại diện tích đạt 10.248,6 ha, tăng 3% sản lượng đạt 117.309,8 tấn, tăng 2,1%). Nhằm phát huy hiệu quả sử dụng đất và tăng cường tiết kiệm nguồn nước tưới, năm 2022 toàn tỉnh đã thực hiện chuyển đổi 5.198 ha đất lúa kém hiệu quả sang trồng các cây ngắn ngày khác hiệu quả hơn (gồm cây bắp 1.238 ha, rau 1.256 ha, đậu các loại 1.002 ha, đậu phộng 1.234 ha, dưa hấu 164 ha, cây trồng khác 304 ha). Các địa phương trong tỉnh triển khai các giải pháp phát triển lúa thương phẩm chất lượng cao nhằm hướng đến xây dựng chuỗi giá trị lúa gạo, phát triển tập trung quy mô lớn theo hướng hiện đại, nâng cao giá trị gia tăng, bền vững. 2. Cây lâu năm Trong năm thời tiết thuận lợi cho sinh trưởng và phát triển cây lâu năm người dân tập trung chăm sóc các loại cây lâu năm hiện có. Tuy nhiên, việc xuất khẩu nông sản, đặc biệt là thanh long gặp nhiều khó khăn giá cả nguyên, vật liệu đầu vào, nhất là phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, xăng dầu và các mặt hàng phục vụ sản xuất nông nghiệp tăng cao chất lượng giá trị và sức cạnh tranh của một số sản phẩm nông nghiệp còn thấp hiệu quả liên kết hợp tác sản xuất theo chuỗi giá trị nông nghiệp chưa cao. Tổng diện tích trồng cây lâu năm sơ bộ đạt 109.154,2 ha, giảm 2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó diện tích cây công nghiệp lâu năm đạt 67.758,4 ha, tăng 2,7% cây ăn quả đạt 39.596,3 ha, giảm 9,4% các loại cây lâu năm còn lại 1.799,6 ha, tăng 5,2%. - Thanh long: Diện tích toàn tỉnh năm 2022 đạt 27.787,6 ha, giảm 15,4% so với cùng kỳ năm trước năng suất đạt 217,4 tạ/ha, giảm 4,4 tạ/ha sản lượng thu hoạch đạt 600.500 tấn, giảm 80.400,9 tấn diện tích giảm ở hầu hết ở các huyện trên địa bàn tỉnh. Do thị trường Trung Quốc giảm lượng nhập khẩu, giá bán giảm sâu (có lúc 1.000 đến 2.000 đồng/kg) nhưng không có người thu mua, nên người trồng thanh long hạn chế đầu tư, chăm sóc giá thấp kéo dài, trong khi chi phí lao động, phân bón, thuốc trừ sâu ngày càng tăng, nên người trồng thanh long bỏ vườn không chăm sóc ngày càng nhiều năm nay số lượng hộ chong đèn giảm dần, do tâm lý sợ thua lỗ. Tính đến thời điểm 15/12/2022, toàn tỉnh có 10.120,9 ha thanh long được cấp chứng nhận đạt tiêu chuẩn VietGap (trong đó Hàm Thuận Nam 6.952,8 ha Hàm Thuận Bắc 2.427,1 ha Bắc Bình 419,6 ha Phan Thiết 32,0 ha Hàm Tân 97,2 ha La Gi 121 ha Tuy Phong 72 ha). - Cây điều: Diện tích toàn tỉnh năm 2022 đạt 18.326,1 ha, giảm 1,2% so với cùng kỳ năm trướcchủ yếu giảm do diện tích điều già cho năng suất thấp, không hiệu quả nên người dân chặt bỏ chuyển sang trồng cây khác năng suất đạt 8 tạ/ha, tăng 0,23 tạ/ha sản lượng thu hoạch đạt 14.300 tấn, tăng283,1 tấn. Năng suất điều tăng do trong những năm gần đây một số địa phương triển khai trồng điều ghép nên năng suất thu hoạch ngày được cải thiện hơn tuy nhiên phần lớn diện tích điều trên địa bàn tỉnh chủ yếu là các giống điều truyền thống, năng suất thấp, nhất là các huyện phía bắc chủ yếu trồng trên đất cát bạc màu nên hiệu quả kinh tế mang lại chưa cao. - Cây tiêu: Diện tích toàn tỉnh năm 2022 đạt 1.028,2 ha, giảm 8,5% so với cùng kỳ năm trước năng suất đạt 13,7 tạ/ha, tăng 0,08 tạ/ha sản lượng thu hoạch đạt 1.410 tấn, giảm 114,1 tấn. Do giá tiêu thấp trong thời gian dài nên người trồng tiêu chặt bỏ một số diện tích già hiện nay, giá tiêu tăng trở lại nhưng chưa cao, trong khi chi phí sản xuất tăng, thường xuyên xuất hiện nhiều sâu bệnh không thuốc đặc trị (chết nhanh chết chậm), không có lãi, nhiều rủi ro nên người trồng ngại đầu tư. - Cao su: Diện tích toàn tỉnh năm 2022 ước đạt 45.000 ha, tăng 2,3% so với cùng kỳ năm trướcnăng suất đạt 15,5 tạ/ha, tăng 0,08 tạ/ha sản lượng cao su sơ bộ đạt 65.400 tấn, tăng 1.486,7 tấn.Trong năm 2022 thị trường xuất khẩu cao su chưa có dấu hiệu khả quan, sản phẩm thu hoạch chủ yếu tiêu thụ trong nước, dự tính trong thời gian đến diện tích trồng mới trên địa bàn tỉnh sẽ còn phát triển nhưng không cao. - Cà phê: Diện tích toàn tỉnh năm 2022 đạt 2.255,5 ha, giảm 1,9% so với cùng kỳ năm trước nguyên nhân giảm do chuyển diện tích cà phê già kém hiệu quả sang trồng các loại cây khác (như sầu riêng,...) cây cà phê trồng tập trung chủ yếu ở huyện Hàm Thuận Bắc, Tánh Linh và Đức Linh năng suất đạt 17,2 tạ/ha, tăng 0,05 tạ/ha sản lượng sơ bộ đạt 3.880 tấn, giảm 27 tấn so với cùng kỳ năm trước. - Các loại cây lâu năm còn lại đang được chăm sóc và phát triển bình thường, diện tích tăng so với cùng kỳ năm trước. 3. Tình hình dịch bệnh: Trong năm không xảy ra dịch bệnh nghiêm trọng dịch bệnh trên cây trồng cơ bản được kiểm soát,tiếp tục duy trì công tác phòng chống bệnh trên các loại cây trồng. - Cây lúa: Diện tích nhiễm bệnh đạo ôn lá 940 ha, giảm 78 ha so với cùng kỳ năm trước bệnh bạc lá (cháy bìa lá) 470 ha, giảm 287 ha sâu đục thân (bông bạc) 340 ha, tăng 16 ha chuột gây hại 280 ha sâu đục thân 271 ha. - Cây thanh long: Bệnh đốm nâu diện tích nhiễm 328 ha bệnh thối rễ tóp cành 880 ha bệnh nám vàng cành 771 ha, tăng 317 ha so với cùng kỳ năm trước ốc sên gây hại 761 ha, giảm 115 ha. - Cây điều: Bệnh thán thư diện tích nhiễm 186 ha, tăng 24 ha so với cùng kỳ năm trước. Các loài sâu bệnh hại trên những cây trồng khác xuất hiện và gây hại với mật độ không đáng kể. 4. Tình hình thủy lợi phục vụ sản xuất: Trong năm diện tích được tưới từ nguồn nước thủy lợi, thủy điện đạt 114.043 ha, đạt 98% so với kế hoạch. Trong đó cây lúa, hoa màu 93.648 ha, đạt 98,5% kế hoạch, tăng 485 ha so với cùng kỳ nămtrước. Cây thanh long, cây ăn quả đạt 19.984 ha, đạt 95% kế hoạch, giảm 1.071 ha so với cùng kỳ năm trước. Đỗ Thị Lý (st) - Nguồn Cục Thống kê Bình Thuận
  • Tăng cường kiểm soát vận chuyển trâu, bò vào địa bàn tỉnh Bình Thuận
    Tăng cường kiểm soát vận chuyển trâu, bò vào địa bàn tỉnh Bình Thuận
    30/12/2022 00:00
    Tăng cường kiểm soát vận chuyển trâu, bò vào địa bàn tỉnh Bình Thuận Thực hiện Công văn số 8239/BNN-TY ngày 07/12/2022 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc tăng cường kiểm soát vận chuyển trâu, bò qua biên giới. Nhằm tăng cường kiểm soát vận chuyển trâu, bò vào địa bàn tỉnh Bình Thuận, ngày 22/12/2022, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Công văn số 4375/UBND-KT về việc triển khai thực hiện Công văn số 8239/BNN-TY ngày 07/12/2022 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Theo đó, UBND tỉnh đã giao Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với các sở, ngành liên quan và Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố triển khai quyết liệt, đồng bộ các biện pháp kiểm soát buôn bán, vận chuyển trái phép trâu, bò, sản phẩm từ trâu, bò vào tỉnh theo đúng quy định của Luật Thú y, các văn bản hướng dẫn thi hành Luật, chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ (tại các Quyết định số 1632/QĐ-TTg ngày 22/10/2020 về việc phê duyệt “Chương trình quốc gia phòng, chống bệnh Lở mồm long móng, giai đoạn 2021 - 2025” và Quyết định số 1814/QĐ-TTg ngày 28/10/2021 về việc phê duyệt “Kế hoạch quốc gia phòng, chống bệnh Viêm da nổi cục trên trâu, bò, giai đoạn 2022- 2030”), đặc biệt cần tập trung một số nội dung sau: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các trường hợp buôn bán, vận chuyển trái phép trâu, bò, sản phẩm từ trâu, bò vào tỉnh không để xảy ra tình trạng nhập lậu, vận chuyển, buôn bán trái phép trâu, bò vào tỉnh. Chủ trì, phối hợp với Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố thành lập các đoàn thanh tra, kiểm tra tình trạng buôn bán, vận chuyển, giết mổ trâu, bò tăng cường công tác giám sát dịch bệnh, sử dụng chất cấm trên trâu bò nhập khẩu và nghi nhập lậu trái phép vào địa bàn tỉnh Bò được nhốt tập trung trước khi vận chuyển đi tiêu thụ tại huyện Hàm Thuận Nam và huyện Hàm Thuận Bắc Công an tỉnh: Phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các cơ quan liên quan thành lập các chuyên án, điều tra, đấu tranh và xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân buôn bán, vận chuyển trái phép trâu, bò, sản phẩm từ trâu, bò vào tỉnh. Trường hợp bắt được các lô hàng trâu, bò, sản phẩm từ trâu, bò vận chuyển bất hợp pháp thì phải xử lý, tiêu hủy theo quy định. Cục Quản lý thị trường tỉnh: Tăng cường các biện pháp kiểm soát lưu thông, kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm các trường hợp vận chuyển, buôn bán trái phép trâu, bò vào tỉnh. Phối hợp chặt chẽ, chủ động chia sẻ thông tin, dữ liệu với các cơ quan thú y địa phương về việc buôn bán, vận chuyển trái phép trâu, bò, sản phẩm từ trâu, bò vào tỉnh theo quy định. QT
  • BÌNH THUẬN BAN HÀNH KẾ HOẠCH PHÒNG, CHỐNG DỊCH BỆNH ĐỘNG VẬT TRÊN CẠN NĂM 2023
    BÌNH THUẬN BAN HÀNH KẾ HOẠCH PHÒNG, CHỐNG DỊCH BỆNH ĐỘNG VẬT TRÊN CẠN NĂM 2023
    30/12/2022 00:00
    BÌNH THUẬN BAN HÀNH KẾ HOẠCH PHÒNG, CHỐNG DỊCH BỆNH ĐỘNG VẬT TRÊN CẠN NĂM 2023 Ngày 28/11/2022, UBND tỉnh Bình Thuận ban hành Kế hoạch số 4041/KH-UBND về phòng, chống dịch bệnh động vật trên cạn trên địa bàn tỉnh năm 2023, với mục tiêu chủ động thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch bệnh, ngăn ngừa sự phát triển của các loại dịch bệnh động vật trên địa bàn, đặc biệt là bệnh Dịch tả lợn Châu Phi, bệnh Viêm da nổi cục trên trâu bò, bệnh Cúm gia cầm, bệnh Tai xanh, bệnh Lở mồm long móng ở gia súc, bệnh Dại trên động vât và các dịch bệnh động vật khác. Hạn chế đến mức thấp nhất những thiệt hại do dịch bệnh xảy ra, góp phần ổn định sản xuất chăn nuôi, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, bảo vệ sức khỏe con người. Nội dung chính của Kế hoạch qua 3 tình huống sau: 1. Khi chưa có dịch: Tăng cường kiểm tra, theo dõi, đôn đốc việc thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch từ tỉnh đến cơ sở. Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố xây dựng kế hoạch phòng, chống dịch cụ thể tại địa phương để sẵn sàng đối phó trong mọi tình huống khi có dịch xảy ra. Vận động các cơ sở, hộ chăn nuôi thực hiện chăn nuôi an toàn sinh học, tiêm phòng đầy đủ vắc xin phòng các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho đàn vật nuôi theo quy định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Thực hiện tổng vệ sinh, khử trùng, tiêu độc môi trường tập trung tại các chợ, các nơi mua bán động vật, sản phẩm động vật các ổ dịch cũ, các hố chôn động vật tiêu hủy, các hộ chăn nuôi lớn, trang trại chăn nuôi, các cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm… nâng cao ý thức tự giác của các hộ chăn nuôi nhỏ, lẻ trong việc tổ chức vệ sinh tiêu độc tại khu vực chăn nuôi. Thực hiện tốt các Chương trình khống chế dịch bệnh của Trung ương và của tỉnh, trong đó tập trung chương trình tiêm phòng vắc xin phòng bệnh Lở mồm long móng tiêm phòng vắc xin phòng bệnh Cúm gia cầm tiêm phòng vắc xin phòng bệnh Viêm da nổi cục trên trâu, bò tiêm phòng vắc xin phòng bệnh Tụ huyết trùng cho đàn trâu bò thuộc khu vực đồng bào dân tộc miền núi, vùng cao. Thực hiện tốt công tác kiểm dịch động vật xuất tỉnh, công tác kiểm soát giết mổ động vật. Thường xuyên kiểm tra, kiểm soát việc lưu thông, vận chuyển động vật, sản phẩm động vật trên địa bàn tỉnh, kịp thời xử lý các trường hợp vi phạm theo quy định. Tổ chức công tác thanh, kiểm tra trong công tác phòng chống dịch. 2. Khi có dịch xảy ra: Củng cố, kiện toàn, thành lập Ban Chỉ đạo phòng, chống dịch bệnh động vật các cấp khi có dịch xảy ra để theo dõi, chỉ đạo, kiểm tra đôn đốc việc thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch bệnh động vật trên cạn. Kiểm tra, xác minh tình hình dịch bệnh lấy mẫu gửi phòng xét nghiệm để xác định dịch bệnh. Đề nghị các cấp có thẩm quyền ban hành Quyết định công bố dịch theo quy định của Luật Thú y. Triển khai khẩn cấp các biện pháp chống dịch theo quy định của pháp luật về thú y (lập chốt kiểm tra vận chuyển xử lý gia súc, gia cầm mắc bệnh tiêm phòng bao vây ổ dịch triển khai vệ sinh tiêu độc, khử trùng ….) Kiểm tra, giám sát, thẩm định và đề nghị cấp có thẩm quyền công bố hết dịch theo quy định của Luật Thú y. Bò bị bệnh Lở mồm long móng trên địa bàn huyện Hàm Thuận Bắc vào năm 2020 3. Khi hết dịch: Tiếp tục thực hiện công tác giám sát, tiêu độc khử trùng nhằm xử lý triệt để các mầm bệnh. Thống kê lại số đàn gia súc, gia cầm bị tiêu hủy tại các địa phương để thực hiện chính sách hỗ trợ cho người chăn nuôi (nếu có). Tổ chức sơ tổng kết, rút kinh nghiệm về công tác phòng chống dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm Một số hình ảnh bệnh Viêm da nổi cục trên trâu, bò xảy ra tại huyện Hàm Thuận Bắc trong năm 2022 Ngoài ra, trong kế hoạch còn nêu rõ về nguồn kinh phí thực hiện, cách thức tổ chức thực hiện trong đó có phân công trách nhiệm cho các ngành, các đơn vị và địa phương để thực hiện. Đồng thời, Kế hoạch phòng, chống dịch bệnh động vật trên cạn trên địa bàn tỉnh năm 2023 còn kèm theo kế hoạch tiêm phòng vắc xin phòng bệnh Lở mồm long móng tiêm phòng vắc xin phòng bệnh Cúm gia cầm tiêm phòng vắc xin phòng bệnh Viêm da nổi cục trên trâu, bò tiêm phòng vắc xin phòng bệnh Tụ huyết trùng cho đàn trâu bò thuộc khu vực đồng bào dân tộc miền núi, vùng cao (theo phụ lục 1, 2, 3 và 4). PHỤ LỤC 1: KẾ HOẠCH TIÊM PHÒNG VẮC XIN PHÒNG BỆNH LỞ MỒM LONG MÓNG TRÊN TRÂU, BÒ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NĂM 2023 Đối tượng tiêm phòng: Trâu, bò. Thời gian tiêm phòng: 02 lần tiêm phòng trong năm, mỗi lần cách nhau 6 tháng. Lần 1: tháng 4 - 5/2023. Lần 2: tháng 10 - 11/2023. Nhu cầu vắc xin tiêm phòng đợt I/2023: 141.500 liều. Nhu cầu vắc xin tiêm phòng đợt II/2023: 141.500 liều. Bò nuôi tại hộ gia đình trên địa bàn huyện Hàm Thuận Bắc PHỤ LỤC 2: KẾ HOẠCH TIÊM PHÒNG VẮC XIN TỤ HUYẾT TRÙNG TRÂU, BÒ PHỤC VỤ ĐỒNG BÀO DÂN TỘC MIỀN NÚI, VÙNG CAO TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NĂM 2023: Đối tượng tiêm phòng: Đàn trâu bò của bà con đồng bào dân tộc miền núi, vùng cao. Gồm các xã thuần dân tộc và các thôn xen ghép: Huyện Tuy Phong (xã Phan Dũng, thôn dân tộc xã Phong Phú). Huyện Bắc Bình (xã Phan Sơn, xã Phan Lâm, xã Phan Điền, xã Phan Tiến). Huyện Hàm Thuận Bắc (xã Đông Giang, xã Đông Tiến, xã La Dạ, thôn Ku Kê xã Thuận Minh, thôn Dân Hiệp xã Thuận Hòa). Huyện Hàm Thuận Nam (xã Hàm Cần, xã Mỹ Thạnh). Huyện Hàm Tân (thôn dân tộc xã Tân Hà, thôn dân tộc xã Tân Đức, thôn dân tộc xã Sông Phan, thôn dân tộc xã Tân Xuân). Huyện Tánh Linh (xã La Ngâu, xã Măng Tố, thôn dân tộc xã Đức Bình, thôn Đồng Me và thôn Bàu chim xã Đức Thuận, khu phố Trà Cụ và khu phố Tân Thành thị trấn Lạc Tánh, thôn dân tộc xã Suối Kiết, thôn dân tộc xã Gia Huynh, thôn 5 xã Đức Phú). Huyện Đức Linh (thôn dân tộc xã Trà Tân, thôn dân tộc xã Đức Hạnh, thôn dân tộc xã Mê Pu). Tổng nhu cầu vắc xin tiêm phòng toàn tỉnh: 24.000 liều. PHỤ LỤC 3: KẾ HOẠCH TIÊM PHÒNG VẮC XIN CÚM GIA CẦM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NĂM 2023: Đối tượng tiêm phòng: Gia cầm các loại bao gồm gà, vịt, ngan đẻ trứng giống, trứng thương phẩm, nuôi lấy thịt. Tổng nhu cầu vắc xin tiêm phòng toàn tỉnh: 1.730.000 liều với số gia cầm được tiêm: 1.196.000 con (trong đó gà: 346.000 vịt: 850.000 con) PHỤ LỤC 4: KẾ HOẠCH TIÊM PHÒNG VẮC XIN PHÒNG BỆNH VIÊM DA NỔI CỤC TRÊN TRÂU, BÒ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NĂM 2022 Đối tượng tiêm vắc xin: Trâu, bò chưa được tiêm vắc xin hoặc đã tiêm vắc xin VDNC nhưng hết thời gian miễn dịch bảo hộ (theo hướng dẫn của nhà sản xuất vắc xin) không có biểu hiện triệu chứng điển hình của bệnh VDNC và các bệnh truyền nhiễm khác. Phạm vi và thời điểm tiêm vắc xin: Hằng năm, tổ chức 1 đợt tiêm phòng chính (thời điểm trước mùa phát triển của các véc tơ truyền bệnh VDNC như ruồi, muỗi, ve, mòng,...) đồng loạt cho trâu, bò trên địa bàn các huyện, thị xã, thành phố, đảm bảo tỷ lệ tiêm đạt trên 80% tổng đàn tại thời điểm tiêm phòng. Khi có dịch bệnh xảy ra, UBND các huyện, thị xã, thành phố tổ chức rà soát và tổ chức tiêm phòng bổ sung vắc xin VDNC cho đàn trâu, bò (chưa được tiêm vắc xin hoặc đã được tiêm vắc xin VDNC nhưng hết thời gian miễn dịch bảo hộ) trong phạm vi bán kính tối thiểu 100 km tính từ ổ dịch VDNC hoặc theo địa giới hành chính cấp huyện của địa phương có dịch bệnh VDNC và huyện liền kề xung quanh địa phương có dịch bệnh VDNC. Tổng nhu cầu vắc xin tiêm phòng toàn tỉnh: 141.500 liều. QT
  • Bảo vệ thực vật là bảo vệ môi trường sống
    Bảo vệ thực vật là bảo vệ môi trường sống
    30/12/2022 00:00
    Bảo vệ thực vật là bảo vệ môi trường sống Thuốc bảo vệ thực vật và phân bón đã được quản lý chặt chẽ thông qua phương thức thẩm định, kiểm soát có hiệu quả công tác đăng ký, công nhận lưu hành trên cơ sở phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam và hài hòa với các nước trong khu vực. Đồng thời, ngành bảo vệ thực vật tiếp tục triển khai các cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển sản xuất, sử dụng phân bón hữu cơ và thuốc bảo vệ thực vật sinh học… Thông tin này được đưa ra tại Hội nghị tổng kết công tác năm 2022 và triển khai kế hoạch năm 2023 của Cục Bảo vệ thực vật - Bộ NN&PTNT. Những đổi mới trong công tác bảo vệ thực vật đã mang đến hiệu quả tích cực, góp phần vào thành công nổi bật của nông nghiệp nước nhà. Tuy nhiên, biến đổi khí hậu cũng như xu thế tiêu dùng đang đặt ra nhiều vấn đề mới với ngành Nông nghiệp nói chung, lĩnh vực bảo vệ thực vật nói riêng như: Sản xuất xanh, tiêu dùng xanh gắn với bảo vệ môi trường... Do vậy, ngành bảo vệ thực vật cũng cần có những thay đổi phù hợp với đòi hỏi thực tế. Không chỉ theo dõi, giám sát dịch bệnh gây hại cho cây trồng, ngành bảo vệ thực vật còn có trách nhiệm bảo vệ môi trường, sự đa dạng sinh học, sự sống của con người và sức khỏe của hơn 100 triệu người dân Việt Nam. Nỗ lực của ngành bảo vệ thực vật cả nước nói chung, Bình Thuận nói riêng là rất đáng ghi nhận. Thế nhưng, công tác kiểm soát sản xuất, kinh doanh, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết. Vì nguồn lợi trước mắt, nhiều lúc, nhiều nơi, các đại lý, hộ kinh doanh vẫn buôn bán thuốc bảo vệ thực vật không rõ nguồn gốc, chất lượng. Tình trạng lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật vẫn diễn ra, tác động tiêu cực đến môi trường, gây nhiều hệ lụy trong đời sống… Mặt khác, quy trình sản xuất nông nghiệp vẫn có chỗ chưa phù hợp với thực tế, làm tăng giá thành sản phẩm. Cùng với việc thay đổi nhận thức, tư duy về công tác bảo vệ thực vật, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững, người dân phải mạnh dạn thay đổi tư duy canh tác hạn chế sử dụng thuốc BVTV hóa học tăng cường sử dụng thuốc sinh học. Mặt khác là chủ động giải pháp ứng phó, hạn chế thấp nhất thiệt hại do sâu bệnh gây ra, đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu kéo theo những diễn biến bất thường. Để khắc phục những điểm yếu của quy trình, giảm chi phí “đầu vào” cho sản xuất, ngành bảo vệ thực vật cần tiếp tục phối hợp với các địa phương thúc đẩy, tăng cường thông tin, truyền thông để nâng cao nhận thức, trách nhiệm của nhà sản xuất cũng như người sử dụng thuốc bảo vệ thực vật về việc bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm, bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng. Bên cạnh việc xây dựng các quy trình canh tác sử dụng thuốc bảo vệ thực vật an toàn, hiệu quả, trách nhiệm với sự tham gia của các hiệp hội, doanh nghiệp…, ngành bảo vệ thực vật cần phối hợp chặt chẽ với các địa phương tuyên truyền bà con thu gom bao bì thuốc bảo vệ thực vật, xây dựng mô hình cánh đồng an toàn, sản xuất thân thiện với môi trường. Và để tiến tới cân đối hài hòa, hợp lý thuốc bảo vệ thực vật hóa học và sinh học, thì cùng với việc đẩy mạnh hợp tác tìm kiếm, sản xuất các loại thuốc bảo vệ thực vật thế hệ mới, các cơ quan chức năng và địa phương cần có cơ chế, chính sách hỗ trợ nông dân sử dụng thuốc bảo vệ thực vật sinh học. Đỗ Thị Lý
  • Mê mẩn với 'nàng hậu' TBR39
    Mê mẩn với 'nàng hậu' TBR39
    30/12/2022 00:00
    Mê mẩn với 'nàng hậu' TBR39 Sau khi đạt giải Nhất cuộc thi Gạo ngon Việt Nam lần thứ 3 năm 2022, nông dân ĐBSCL càng biết đến giống lúa TBR39 và mở rộng sản xuất trong vụ đông xuân 2022-2023. Nhiều vụ lúa qua, giống lúa TBR39 được triển khai trồng thử nghiệm ở nhiều vùng đất khác nhau ở ĐBSCL, nhất là vùng đất phèn mặn hay canh tác theo mô hình lúa – tôm đều thích nghi tốt và cho năng suất cao. Trong vụ lúa hè thu 2022, nhiều nông dân ở vùng Bán đảo Cà Mau hay Vĩnh Thuận, An Biên, Hòn Đất (Kiên Giang) lại bất ngờ với "nàng hoa hậu” mới trình làng, đó là giống lúa TBR39 do Công ty TNHH ThaiBinh Seed – Đồng Tháp sản xuất và đã được nhiều nông dân mê mẩn bởi nhiều đặc tính vượt trội so với các giống lúa khác. Sau khi giống TBR39 của Công ty Cổ phần Tập đoàn ThaiBinh Seed được vinh doanh là giống lúa cho ra sản phẩm gạo ngon, đạt giải Nhất trong cuộc thi Gạo ngon Việt Nam lần thứ 3 năm 2022, nhiều nông dân càng biết đến giống lúa TBR39 và triển khai rộng ra sản xuất trong vụ đông xuân 2022 - 2023 tại các tỉnh/thành phía Nam. Giống TBR39 có thời gian sinh trưởng từ 100 - 110 ngày, cây đẻ nhánh khỏe, chống chịu bệnh đạo ôn và cháy bì lá tốt. Năng suất bình quân đạt từ 5 - 5,5 tấn/ha, cao hơn đối chứng từ 10 - 20% qua các vụ. Đối với vùng đất tốt, nông dân canh tác giỏi, năng suất có thể lên từ 6,5 - 7,5 tấn/ha. Ngoài ra TBR39 còn cho ra tỷ lệ gạo nguyên đạt từ 45 – 55%, chiều dài hạt gạo 7,7 – 7,8mm, hàm lượng amylose 16-17%, hạt gạo đẹp, thon dài. Đặc biệt, giống lúa TBR39 phát triển khá tốt trên nền đất phèn, mặn và phù hợp ở vùng lúa - tôm. Giống TBR39 có thời gian sinh trưởng từ 100 - 110 ngày, cây đẻ nhánh khỏe, chống chịu bệnh đạo ôn, cháy bì lá tốt. Nhờ sinh trưởng tốt, chống chịu tốt với sâu bệnh, nông dân canh tác TBR39 có thể giảm đáng kể chi phí phân bón, thuốc BVTV so với các giống khác. Lúa TBR39 luôn bán được với giá nhỉnh hơn từ vài trăm đồng tới cả ngàn đồng/kg so với các lúa khác và được thương lái thu mua rất nhanh lẹ. Anh Trần Thanh Long ở xã Đông Thái, huyện An Biên (Kiên Giang) lần đầu tiên biết đến giống TBR39 và thực hiện canh tác 5 công theo mô hình lúa – tôm vừa thu hoạch xong cho năng suất gần 1 tấn/công (công 1.300m2), đây là năng suất cao và đạt kỷ lục đối với bản thân anh so với các giống lúa trước đây anh từng canh tác. Anh Long phấn khởi chia sẻ: "Trồng giống TBR39 sướng nhất ở khâu lúa ít sâu bệnh, nhẹ tiền phân bón hóa học, chỉ sử dụng phân/thuốc hữu cơ sinh học mà lúa cứng cây, ít đổ ngã. Khi đến ngày thu hoạch, máy cắt vào đồng rất thuận lợi. Sau khi thu hoạch, lúa bán cho thương lái tại ruộng với giá từ 8.400 - 8.500 đồng/kg, sau khi trừ hết chi phí, lợi nhuận mang lại trên 6 triệu đồng/công". TBR39 thích hợp trên nhiều chân đất khác nhau, đặc biệt thích hợp với vùng lúa - tôm, vùng lúa cấy 2 vụ/năm. Anh Long cho biết, vì canh tác vụ mùa trên nền đất nuôi tôm, một năm chỉ canh tác được một vụ lúa nên sau khi thu hoạch xong vụ lúa mùa, nông dân tiến hành cải tạo đất để lấy nước mặn vào nuôi tôm. "Sang năm sau vào đầu mùa mưa, nông dân thu hoạch tôm rồi mới tiếp tục triển khai trồng lúa. Tôi sẽ tiếp tục mở rộng trồng giống TBR39 và giới thiệu cho nhiều người biết đến giống lúa TBR39 để đưa vào sản xuất trong năm tới", anh Long hồ hởi. Còn anh Lê Văn Đời ở xã Khánh Lâm, huyện U Minh (Cà Mau) có ruộng canh tác 3ha lúa cho biết: “Trước giờ tôi trồng qua rất nhiều giống lúa khác nhau tên thị trường, nhưng đặc biệt thời gian gần đây tôi được ăn thử cơm của giống lúa TBR39. Phải nói chất lượng gạo cũng phải thuộc loại gạo ngon ở Việt Nam. Cơm ăn vào có độ rất dẻo, thơm, để nguội ăn vẫn ngon. Giống này có giá lúa cao, đạt hơn 7.800 đồng/kg, cao hơn các giống lúa lương thực khác ở vùng này rất nhiều”. Hộ anh Trần Thanh Long ở xã Đông Thái, huyện An Biên (Kiên Giang) lần đầu tiên trồng giống TBR39 theo mô hình lúa – tôm vừa thu hoạch xong lúa cho năng suất gần 1 tấn/công (công 1.300m2). Theo đánh giá của nông dân, giống lúa TBR39 sản xuất trong vụ hè thu 2022, mặc dù gặp bất lợi, mưa nhiều nhưng lúa ít bị đổ ngã, ít bị nảy mầm trên bông. Chiều dài bông trên 30cm, trung bình số hạt lúa đạt hơn 200 hạt/bông. Điều đó đã phần nào đã chứng minh được sức hút của nàng “hoa hậu” mới này tại ĐBSCL. Có thể nói, giống TBR39 cho lợi nhuận khá cao so với các giống đang sản xuất tại ĐBSCL. Với những ưu điểm vượt trội đó, giống lúa thuần TBR39 trong tương lai gần sẽ chiếm cơ cấu chính tại vùng ĐBSCL, đặc biệt là các tỉnh có diện tích lúa - tôm như Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau, Sóc Trăng... Đây sẽ là các tỉnh có rất nhiều thuận lợi trong việc phát triển trồng lúa chất lượng cao, đáp ứng các tiêu chuẩn xuất khẩu. TBR39 của Công ty Cổ phần Tập đoàn ThaiBinh Seed được vinh doanh là giống lúa cho ra sản phẩm gạo ngon đã đạt giải Nhất trong cuộc thi Gạo ngon Việt Nam lần thứ 3 năm 2022. Ảnh: Lê Hoàng Vũ. Ông Phạm Văn Hoàn, Phó Tổng Giám đốc phụ trách kinh doanh của Tập đoàn ThaiBinh Seed, kiêm Giám đốc Công ty TNHH ThaiBinh Seed – Đồng Tháp cho biết: TBR39 thích hợp trên nhiều chân đất khác nhau, đặc biệt thích hợp với vùng lúa - tôm, vùng lúa cấy 2 vụ/năm. Giống sản xuất được các thời vụ trong năm. Lượng giống sử dụng cho lúa cấy từ 50 - 60kg/ha, lúa gieo sạ 80 - 90kg/ha. Để phát triển rộng giống lúa TBR39 ở nhiều vùng đất khác nhau, trong nhiều vụ lúa vừa qua, Công ty đã triển khai sản xuất thử giống TBR39 ở các vùng ven biển bị nhiễm mặn như An Biên (Kiên Giang), Gò Công Đông (Tiền Giang), U Minh Hạ (Cà Mau) và đều mang lại kết quả tốt. Lúa ở giai đoạn đẻ nhánh cây nở bụi mạnh, sinh trưởng phát triển tốt, ít sâu bệnh, cứng cây và ít đổ ngã… Thủy Tiên (Sưu tầm)
  • Bèo hoa dâu: Phân bón sinh học, thức ăn chăn nuôi và bảo vệ môi trường
    Bèo hoa dâu: Phân bón sinh học, thức ăn chăn nuôi và bảo vệ môi trường
    30/12/2022 00:00
    Bèo hoa dâu: Phân bón sinh học, thức ăn chăn nuôi và bảo vệ môi trường Phát triển bèo hoa dâu trên đất lúa hay trên mặt ao hồ có thể làm phân bón sinh học, làm thức ăn chăn nuôi, thay thế một phần đậu tương, bảo vệ môi trường... Cuốn sách "Câu chuyện Bèo Hoa dâu (Azolla) - một thông điệp đến từ tương lai (Jonathan Bujack & Alexandra Bujak, 2022 dịch giả Phạm Gia Minh) đã làm tôi nhớ ngày còn bé, mùa xuân, khi cây lúa đã ra những chiếc lá non, xanh mơn mởn, trời lất phất mưa, các bà các mẹ thường gánh bèo ra thả ruộng lúa. Cuốn sách "Câu chuyện Bèo Hoa dâu (Azolla) - một thông điệp đến từ tương lai. Ngày đó, tôi được giải thích là bèo hoa dâu để làm phân vì nó cố định đạm và để hạn chế cỏ dại trên ruộng lúa. Hồi ấy chưa dùng thuốc trừ cỏ tiền nảy mầm cho lúa như bây giờ, cỏ làm bằng tay hay bằng cào cỏ, lúc đầu là cào cỏ răng lược, sau là cào cỏ cải tiến cũng dùng lực tay để đùn. Cỏ bờ được cắt, một phần trâu ăn (những em bé chăn trâu cầm một đầu dây thừng, đầu kia cố định bởi một miếng cao su luồn qua mũi trâu để canh chừng, không cho trâu ăn lúa). Bèo lan rất nhanh. Khi đã kín mặt ruộng một thời gian, nước trong ruộng được tháo cạn để lúa dừng đẻ nhánh, chuẩn bị làm đòng, cũng là lúc bèo chết để chuyển hóa thành dinh dưỡng cho cây lúa. Ngày bé, chắc hầu hết chúng ta đều được làm bài toán về bèo hoa dâu khi học cấp số nhân: "Cứ hai ngày thì diện tích bèo tăng gấp đôi. Hỏi diện tích thả bèo ban đầu là... thì sau bao lâu bèo sẽ phủ kín mặt ruông có diện tích là...". Báo Nhân dân số 9007 ngày 5/2/1979, kỹ sư Đặng Đình Chấn (Vụ Trồng trọt, Bộ Nông nghiệp) chỉ đạo "Các địa phương dồn sức nhân thả nhanh bèo hoa dâu, đảm bảo hoàn thành kế hoạch vụ đông xuân 1978 - 1979: 400 nghìn ha bèo hoa dâu và 40 triệu tấn bèo hoa dâu được vùi cho lúa chiêm xuân" (theo con số này thì bèo hoa dâu phải được vùi đến 5 - 10 lần trong một vụ). Ao bèo giống. Tuy nhiên, có lẽ do sự phát triển của thuốc trừ cỏ, vì sự tiện lợi của phân bón hóa học, người ta không còn quan tâm đến bèo hoa dâu, nguồn phân xanh cho lúa và giảm cỏ dại nữa. Tôi nhớ quảng cáo thuốc trừ cỏ trên tivi, người ta trộn thuốc trừ cỏ với vật liệu gì đó rồi rắc bằng tay trần - không găng tay, sai về an toàn sử dụng thuốc BVTV (có lẽ vì thế đa số người dân không nghĩ rằng thuốc trừ cỏ là thuốc độc). Đọc cuốn sách trên, bèo hoa dâu có nhiều lợi ích hơn là phân xanh và hạn chế cỏ trên ruộng lúa. Tôi xin tóm tắt công dụng của bèo hoa dâu được viết trong cuốn sách trên cùng một số tài liệu khác như sau: Phân bón sinh học Bèo hoa dâu Azolla cộng sinh chính với tảo lam Anabaena azolla. Chính tảo lam cố định đạm từ ni-tơ (N2) trong không khí, giống như vi khuẩn nốt sần trong rễ cây họ đậu, nhưng với năng suất cao hơn. Cụ thể, cây họ đậu cố định được 400kg ni-tơ/ha/năm bèo hoa dâu cố định được 1.100kg ni-tơ/ha/năm. Với khả năng tăng sinh khối nhanh (tăng gấp đôi sinh khối trong thời gian chưa đến 2 ngày), bèo hoa dâu cung cấp lượng lớn chất hữu cơ để cải tạo đất. Ruộng lúa thả bèo hoa dâu ở huyện Châu Thành, Kiên Giang. Thức ăn chăn nuôi Bèo hoa dâu có hàm lượng dinh dưỡng cao: Tính theo khối lượng chất khô, protein (Pr) chiếm 25 - 35% axit amin lên đến 10% 10 - 15% chất khoáng giàu omega 3, omega 6, vitamin A, beta caroten, vitamin B12 và các khoáng chất thiết yếu như Ca, Cu, Fe, Mg, P và K. Nó chứa Pr cao hơn các loài bèo khác như bèo tây, bèo cái và cỏ làm thức ăn gia súc như cỏ ba lá (cỏ ba lá có Pr chiếm khoảng 20% khối lượng chất khô). Do vậy, bèo hoa dâu có thể làm thức ăn cho gia súc, gia cầm và cá, dạng ăn tươi hay chế biến. Bảo vệ môi trường + Bèo hoa dâu có khả năng hấp thu CO2 cao, tăng nhanh khi môi trường chứa nhiều CO2, trong môi trường CO2 chiếm khoảng 385ppm (2008), Azolla filiculovides hấp thu 2.587kg C/ha/năm, tăng lên 4.660kg C/ha/năm ở môi trường 1.000ppm CO2, 6.569kg C/ha/năm, tương đương 24.108kg CO2/ha/năm ở môi trường 1.600 ppm CO2. Do vậy, mặt nước gần các nhà máy nhiệt điện nên nuôi bèo hoa dâu để giảm CO2 ra môi trường toàn cầu? + Bèo hoa dâu ngăn ngừa việc muỗi đẻ trứng xuống nước do làm thành lớp ngăn cách mặt nước và không khí. Bèo hoa dâu GS Nguyễn Quang Thạch nuôi tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam. + Giảm phát thải khí CH4: Bèo hoa dâu làm thức ăn cho động vật nhai lại giúp giảm phát thải khí metal từ chất thải của chúng. Khí metal gây hiệu ứng nhà kính cao gấp 25 lần so với CO2 trên cùng một tỷ lệ thể tích. Khí CH4 gây hiệu ứng nhà kính chiếm 15 - 20% tổng số khí gây hiệu ứng nhà kính toàn cầu. Theo nghiên cứu của Kimani S.M. và cộng sự 2018, đất trồng lúa nước có thả bèo hoa dâu phát thải khí CH4 bằng 2/3 lượng CH4 phát thải trên đất lúa nước không thả bèo. Việc sử dụng bèo hoa dâu làm phân bón sinh học, giúp giảm lượng đạm Urê phải sản xuất, tiết kiệm đáng kể tài nguyên nước và năng lượng. Năm 2018, trên toàn cầu có 2.170.000 tấn phân Urê được sản xuất, tiêu tốn 27.742.225m3 nước, chiếm 16% lượng nước tiêu thụ toàn cầu tiêu tốn 376.979.956 kWh điện, chiếm 26% lượng điện tiêu thụ toàn cầu. Giảm sản xuất mỗi tấn Urê sẽ tiết kiệm được 12,8m3 nước và 173,7 kWh điện. Cũng giống như bèo tây và các chi, loài bèo khác, bèo hoa dâu hấp thu kim loại nặng, chất khoáng, trong đó có NO3-. Cần lưu ý rằng, không có giải pháp vật lý và hóa học nào để có thể tách NO3- ra khỏi nguồn nước mặt, nhưng giải pháp sinh học thì có thể. Thực vật thủy sinh nói chung hấp thu NO3- làm giảm nguy cơ ô nhiễm NO3- ở nguồn nước mặt. Bèo hoa dâu và các chi, loài bèo khác được dùng để xử lý nước thải là một giải pháp hữu hiệu. Chúng ta nên nuôi trồng và phát triển bèo hoa dâu trên đất lúa hay trên mặt ao hồ làm phân bón sinh học, làm thức ăn chăn nuôi, thay thế một phần đậu tương và bảo vệ môi trường. Tại Hội nghị Biến đổi khí hậu COP26, Thủ tướng cam kết cắt giảm khí nhà kính đến năm 2050 bằng 0. Chúng ta sẽ làm gì để từng bước thực hiện? Bèo hoa dâu có thể là một trong những giải pháp. Thủy Tiên (Sưu tập)
Tổng số : 501 bài viết
Trang
12345678910Tiếp