Nuôi bào ngư trên huyện đảo Phú Quý
Mô hình: “Nuôi bào ngư vành tai thương phẩm bằng lồng bè”, do Trạm khuyến nông Phú Quý thực hiện được triển khai từ dự án: Xây dựng mô hình nuôi ốc hương, hàu thái bình dương, và bào ngư vành tai ở các tỉnh ven biển Nam Trung Bộ và Hải đảo, của Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản III. Mô hình được thực hiện tại khu Lạch Dù, là nơi hội tụ các điều kiện tự nhiên để phát triển nghề nuôi.


          Bào ngư là đối tượng có giá trị kinh tế cao, với chất lượng thịt thơm ngon, độ đạm cao (22-24%), được thị trường trong và ngoài nước ưa chuộng. Không chỉ được chế biến thành thực phẩm, bào ngư còn được sử dụng làm thuốc chữa bệnh, do đó nhu cầu về sản lượng bào ngư trên thế giới rất lớn. Việc khai thác bào ngư trong tự nhiên quá mức, dẫn đến cạn kiệt thúc đẩy nghề nuôi phát triển và có triển vọng cao khi nuôi tại Phú Quý.

Mô hình: “Nuôi bào ngư vành tai thương phẩm bằng lồng bè”, do Trạm khuyến nông Phú Quý thực hiện được triển khai từ dự án: Xây dựng mô hình nuôi ốc hương, hàu thái bình dương, và bào ngư vành tai ở các tỉnh ven biển Nam Trung Bộ và Hải đảo, của Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản III. Mô hình được thực hiện tại khu Lạch Dù, là nơi hội tụ các điều kiện tự nhiên để phát triển nghề nuôi, phía bên ngoài nhờ dải san hô che chắn hầu như kín gió quanh năm, độ mặn tương đối ổn định, thường giao động 33 – 35%o, độ pH từ 6,5 – 7, nhiệt độ nước khá ấm, thường biến thiên từ 24 – 32oC, lưu tốc dòng chảy 2 - 4 m/giây, đây cũng là điều kiện để bào ngư sinh trưởng và phát triển tốt; cũng tại đây, từng có nhiều bào ngư tự nhiên sinh sống. Mô hình được đầu tư 5 điểm/ 2 xã Tam Thanh và Long Hải, với quy mô 160 m3, Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản III đã hỗ trợ 100% con giống, 50% chi phí thức ăn, tập huấn chuyển giao kỹ thuật cùng các vật liệu phụ trợ khác.



Bào ngư 7 tháng tuổi


Lồng bè nuôi thương phẩm bào ngư vành tai thiết kế tương tự như lồng bè nuôi tôm hùm. Lồng nuôi có 2 lớp lưới, kích thước lớp lưới bên ngoài là 3m x 3m x 3.5m và lớp lưới bên trong 2m x 2m x 2,5m. Kích thước mắt lưới bên ngoài 2a là 2 cm, bên trong 2a là 3 - 4 mm tùy thuộc vào cỡ bào ngư để tránh bào ngư thất thoát ra ngoài. Khung bè được làm bằng gỗ chịu mặn loại 2, khung gỗ có kích thước dài  8 m x 9cm x 8cm, gỗ được ghép với nhau bằng bu lon sắt Ф 10 – 12cm, 12 thanh xà được ghép thành 1 lồng gồm 4 ô. Lồng bè được nâng nổi nhờ hệ thống phuy nhựa loại 200 lít nước. Mỗi lồng được dùng từ 10 đến 12 phuy, phuy được buộc chặt dưới khung lồng bằng dây giềng. Lồng bè được cố định bằng neo sắt có khối lượng 50 – 100 kg/cái. Tùy theo bè mà có số lượng neo nhằm tạo sự bền vững cho lồng nuôi. Trên mỗi mặt lồng được thiết kế nắp lưới buộc chắc bằng dây và có thể mở ra khi cần, trên mặt lồng dùng các miếng xốp mỏng che chắn, tránh ánh sáng chiếu vào, vừa giảm quá trình tạo rong rêu, vừa tạo bóng mát cho bào ngư. Vật bám thường được làm bằng ống nhựa PPC, có màu tối, kích thước của một vật bám có chiều dài 30 - 40cm và đường kính 20cm, có hộ dùng phao tròn khoét lỗ và cho vật bám vào bên trong.

Mô hình tiến hành thả giống vào ngày 03/7/2017. Cỡ giống bào ngư thả nuôi khoảng 7 mm/con, mật độ thả nuôi 1000 con/m2, trong quá trình nuôi được san thưa lúc bào ngư lớn. Khi bào ngư đạt khoảng 3cm, mật độ nuôi khoảng 400 - 500 con/m2. Thức ăn bào ngư là các loại rong sẵn có trên đảo (có thể tươi hoặc khô). Trước khi cho bào ngư ăn cần lấy hết thức ăn dư thừa ra, sau đó mới đưa rong mới vào. Lượng rong cho ăn phải thừa không được để thiếu, nếu thiếu thì lần sau cho ăn phải tăng lên. Lượng thức ăn cho ăn bằng 10% - 30% trọng lượng thân. Nếu thức ăn là các loại rong khô thì trước khi cho ăn phải ngâm trong nước biển khoảng 30 – 60 phút. Lượng thức ăn có thể thay đổi tùy theo nhiệt độ nước và mức độ tiếp nhận thức ăn của bào ngư. Thông thường, 2 - 3 ngày cho ăn 1 lần, mùa hè có thể 2 ngày 1 lần và mùa đông nếu nhiệt độ xuống thấp thì cho ăn 3 ngày 1 lần. Thường thì rải rong vào lúc 4-5 giờ chiều để tối bào ngư bò ra kiếm ăn.

Trong quá trình nuôi, định kỳ kiểm tra tỷ lệ sống và sinh trưởng của bào ngư. Thường xuyên theo dõi các yếu tố môi trường, độ mặn, nhiệt độ, độ trong và màu nước. Nếu thấy có hiện tượng bất thường cần có giải pháp khắc phục ngay, di chuyển bè đến những địa điểm khác, có điều kiện môi trường thuận lợi cho phát triển của bào ngư. Theo dõi chặt chẽ hoạt động bắt mồi của bào ngư, nếu thấy khả năng bắt mồi của bào ngư kém phải kiểm tra các loại thức ăn có bị hôi, thối không; kiểm tra dòng nước chảy tại địa điểm đặt bè nuôi; Bào ngư với tập tính ăn khi nước có dòng chảy sẽ kích thích chúng bắt mồi rất tốt. Hàng ngày phải kiểm tra lồng nuôi để tránh các địch hại vào trong lồng, đặc biệt cua và còng. Khi có bào ngư chết phải vớt ra khỏi lồng nuôi ngay, do chúng thường phân hủy rất nhanh làm cho môi trường trong lồng nuôi bị ô nhiễm dẫn đến nhiều cá thể bị chết. Định kỳ  4 đến 5 ngày, vệ sinh lưới và vật bám tạo điều kiện cho nước lưu thông bên trong lồng với bên ngoài tốt và tạo nơi sạch sẽ cho bào ngư ẩn, dùng bàn chải chà rửa sạch lưới và vật bám. Nếu lưới và vật bám quá nhiều hầu hà và rong rêu bám thì cần phải chuyển lồng và thay vật bám khác.

Sau thời gian nuôi 9 tháng bào ngư đạt kích cỡ trung bình đạt 6 cm/con. Dự kiến sau 14 – 15 tháng nuôi sẽ thu hoạch. Ngày 06/4/2018, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản III đã phối hợp với Trạm khuyến nông Phú Quý, tổ chức tập huấn - hội thảo đầu bờ cho nhân dân trên huyện. Hội thảo đã nghe các chủ mô hình báo cáo kết quả xây dựng mô hình và kinh nghiệm rút ra. Đa số người nuôi đều hứng khởi và có nhận định đây là đối tượng triển vong, vấn đề khó khăn là nguồn giống chất lượng; bà con hy vọng  Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản III tiếp tục sản xuất giống đủ lượng cung ứng cho người nuôi huyện đảo.

  Từ kết quả mô hình cho thấy kỹ thuật nuôi bào ngư khá đơn giản, tỷ lệ sống đến khi đạt thương phẩm cao, là mô hình mới có nhiều triển vọng. Với đặc điểm vùng biển Phú Quý nuôi được ở mật độ cao do nguồn nước, dòng chảy thích hợp, bên cạnh đó nguồn thức ăn đa dạng và có sẵn trong tự nhiên, vào mùa biển động không sợ thiếu thức ăn cho bào ngư; mặt khác, việc phát triển nuôi bào ngư sẽ kéo theo sự phát triển thêm nghề nuôi rong sụn đã bị mai một.

Trong những năm qua, tranh thủ nguồn hỗ trợ từ các dự án, các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, Trung tâm Khuyến nông đã mạnh dạn đề xuất xây dựng các mô hình cây trồng, vật nuôi mới theo hướng hiệu quả, đảm bảo đầu ra, các đối tượng mới được Trung tâm triển khai như: Mô hình khảo nghiệm giống tỏi triển vọng; Mô hình sản xuất giống và thử nghiệm nuôi thương phẩm tôm càng xanh; Mô hình nuôi bào ngư vành tai, v.v..

Huỳnh Phượng

Trạm Khuyến nông Phú Quý


Các bài cùng chuyên mục
  • BÌNH THUẬN: TRIỂN KHAI CÁNH ĐỒNG MẪU LỚN NĂM 2018 “Từ lâu người dân đã quen cách sản xuất truyền thống theo kiểu mạnh ai nấy làm nên hiệu quả mang lại không cao. Do vậy, việc áp dụng và mở rộng mô hình cánh đồng mẫu lớn để bà con tham gia là nhiệm vụ hết sức cần thiết và trọng tâm của tỉnh”
  • Nuôi bào ngư trên huyện đảo Phú Quý
    Mô hình: “Nuôi bào ngư vành tai thương phẩm bằng lồng bè”, do Trạm khuyến nông Phú Quý thực hiện được triển khai từ dự án: Xây dựng mô hình nuôi ốc hương, hàu thái bình dương, và bào ngư vành tai ở các tỉnh ven biển Nam Trung Bộ và Hải đảo, của Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản III. Mô hình được thực hiện tại khu Lạch Dù, là nơi hội tụ các điều kiện tự nhiên để phát triển nghề nuôi.
  • Sở hữu trí tuệ lĩnh vực giống cây trồng
    Thực hiện văn bản số 923/SNN-KHTC ngày 03/04/2018 của Sở Nông nghiệp và PTNT, Đúng 13h30’ ngày 09/04/2018 tại Sở Khoa học và công nghệ Bình Thuận, 11 viên chức Trung tâm Khuyến nông đã tham dự Hội nghị tập huấn Sở hữu trí tuệ về lĩnh vực giống cây trồng.
  • Mô hình 02 lúa + 01 đậu phộng thật sự đem lại hiệu quả cho người dân xã Hồng Liêm

    Nhằm mục tiêu chuyển đổi cơ cấu giống – mùa vụ theo hướng sản xuất nông nghiệp bền vững, từ năm 2016, Trung tâm Khuyến nông Bình Thuận thực hiện mô hình luân canh 02 lúa + 01 đậu phộng vụ đông xuân trên đất 03 vụ lúa tại xã Hồng Liêm, huyện Hàm Thuận Bắc, kết quả lợi nhuận tăng thêm gần 19 triệu đồng/ha so với canh tác 3 vụ lúa. Trong vụ đông xuân 2017 – 2018, mô hình tiếp tục thực hiện tại xã Hồng Liêm, cụ thể tại thôn Liêm An và Liêm Thuận với diện tích 9,5 ha.

Tổng số : 341 bài viết
Trang
12345678910Tiếp