Đang online: 15
Hôm nay: 283
Trong tuần: 2165
Trong tháng: 2707
Tổng truy cập: 86379

MÔ HÌNH VÀ KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO QUY TRÌNH NUÔI CHIM YẾN TẠI TỈNH BÌNH THUẬN

Thứ Năm 18/02/2021 08:02
43

MÔ HÌNH VÀ KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO

 QUY TRÌNH NUÔI CHIM YẾN TẠI TỈNH BÌNH THUẬN

Năm 2019, Cục Thú Y đã nộp hồ sơ đề nghị Trung Quốc mở cửa thị trường tổ yến, đến nay Tổng cục Hải quan (TCHQ) Trung Quốc đã hoàn thành việc thẩm định hồ sơ và chuẩn bị cho bước kiểm tra thực tế. Ngày 7/9/2020 Cục Thú y đã tham mưu Bộ Nông nghiệp và PTNT có thư đề nghị TCHQ Trung Quốc tổ chức thẩm định thực tế bằng hình thức trực tuyến. Ngày 6/11/2020, TCHQ Trung Quốc đã có thư đồng ý phương án kiểm tra trực tuyến theo đề nghị từ phía Việt Nam; hiện Bộ Nông nghiệp và PTNT đang xúc tiến hoàn tất các thủ tục để có thể ký Nghị định thư và xuất khẩu tổ yến sang Trung Quốc vào đầu năm 2021.

 


Nghề nuôi chim yến trong nhà xuất hiện tại tỉnh Bình Thuận từ năm 2007 và phát triển ngày càng mạnh về số lượng nhà nuôi chim yến, đặc biệt trong những năm gần đây. Theo Đỗ Văn Hoan, 2018; tỉnh Bình Thuận là địa phương phát triển mô hình nuôi chim yến rất mạnh nhờ lợi thế về tự nhiên và là một trong các địa phương dẫn đầu cả nước về số lượng đàn chim yến được nuôi với 523.000 con.

Bảng: Tình hình nuôi chim yến tại tỉnh Bình Thuận, giai đoạn 2017-2019

TT

Nội dung

ĐVT

2017

2018

2019

1

Nhà xây kiên cố chuyên nuôi chim yến

 

+ Số lượng nhà

nhà

225

408

714

+ Số lượng chim yến

con

76.100

140.000

300.000

2

Nhà nuôi cơi nới trên nhà ở

 

+ Số lượng nhà

nhà

150

280

490

+ Số lượng chim yến

con

50.000

90.000

205.000

Tổng

 

 

 

 

 

+ Số lượng nhà

nhà

375

688

1204

 

+ Số lượng chim yến

con

126.100

230.000

505.000

(Nguồn: Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Bình Thuận, 2019)

Theo kết quả khảo sát năm 2020 của nhóm nghiên cứu đề tài “Tìm hiểu thị trường thiết bị, giải pháp quan trắc và kiểm soát môi trường sử dụng trong nuôi chim yến và mô hình hóa quy trình nuôi chim yến ứng dụng công nghệ hiện đại, phù hợp với tỉnh Bình Thuận”, các mô hình nhà nuôi chim yến tại tỉnh Bình Thuận chủ yếu gồm 2 loại hình chính là: nhà nuôi chim yến chuyên dụng và nhà nuôi chim yến kết hợp nhà ở. Nếu phân loại theo vật liệu xây dựng sẽ bao gồm 2 loại hình chính là nhà bằng bê tông kiên cố và nhà bằng vật liệu nhẹ.

Mô hình nhà nuôi chim yến chuyên dụng là những mô hình nhà nuôi chim yến chỉ phục vụ cho việc nuôi chim yến lấy tổ và là loại mô hình phổ biến nhất tại tỉnh Bình Thuận. Các mô hình nhà nuôi chim yến chuyên dụng thường có diện tích mặt bằng trên 100m2, cao từ 2 - 4 tầng, sử dụng gạch để xây vách. Một số mô hình sử dụng thêm tôn kẽm chịu nhiệt để che phủ bên ngoài lớp gạch. Chi phí xây dựng phần thô (nhà hoàn chỉnh, chưa có thiết bị, máy móc) khoảng 3 triệu đồng/m2 sàn. Bình Thuận là địa phương có nền nhiệt trung bình hàng năm trên 27oC nên thiết kế mô hình nhà yến thường có hệ thống đối lưu không khí bằng các lỗ thông gió, kết hợp hệ thống phun sương, hồ nước trong nhà,… để dễ dàng thoát nhiệt trong nhà yến.

Mặt cắt mô hình nhà nuôi chim yến chuyên dụng

(Nguồn: Lê Hữu Hoàng và cộng sự, 2016)

Mô hình nhà nuôi chim yến kết hợp nhà ở là mô hình đầu tư nhà yến mang tính chất tiết kiệm chi phí đầu tư do tận dụng được các tầng trên của ngôi nhà ở có sẵn để cải tạo lại thành nhà nuôi chim yến. Trong quá trình khảo sát, mô hình nhà nuôi chim yến kết hợp nhà ở tại tỉnh Bình Thuận có hai cách hình thành như sau:

- Ban đầu yến tự vô nhà làm tổ, sau đó người dân chỉnh sửa tầng trên của nhà ở thành môi trường sinh sống cho chim yến;

- Người dân xây dựng nhà mới trong đó thiết kế kết hợp nhà ở phía dưới và tầng nuôi chim yến ở phía trên.

Mô phỏng nhà nuôi chim yến kết hợp nhà ở

(Nguồn: Lê Hữu Hoàng và cộng sự, 2016)

Mô hình nhà nuôi chim yến bằng bê tông cốt thép có móng, trụ, dầm, sàn bằng bê tông cốt thép. Tường xây bằng gạch có độ dày 20-30 cm với nhiều cách thiết kế khác nhau như: không có khoảng hở giữa 2 lớp gạch, có khoảng hở 5-10cm giữa 2 lớp gạch, chèn xốp cách nhiệt giữa 2 lớp gạch.

Mô hình nhà nuôi chim yến bằng vật liệu nhẹ thường có thiết kế như sau: móng là bê tông cốt thép, trụ, dầm là thép hình chịu lực, sàn trải tấm prima hoặc tấm cemboard. Tường bao che chính có mặt ngoài bọc tôn, ở giữa chèn xốp cách nhiệt dày 10cm, mặt trong bọc tấm prima. Mái lợp tôn bên dưới có hệ thống trần bằng tấm prima và xốp cách nhiệt. Tỉnh Bình Thuận có nhiệt độ không khí trung bình hàng năm cao nên mô hình nuôi chim yến bằng vật liệu nhẹ không phổ biến so với mô hình bằng bê tông cốt thép.

Để mang lại hiệu quả cho các mô hình nhà nuôi chim yến, ngoài các hệ thống của thiết kế nhà như: hệ thống thông gió, hệ thống thanh gỗ làm giá, vách ngăn,… thì việc quản lý lý, vận hành các thiết bị, công nghệ trong nhà yến đóng vai trò rất quan trọng.

Quá trình vận hành nhà yến bao gồm các công việc kiểm tra, theo dõi, điều chỉnh các thông số kỹ thuật quan trọng (nhiệt độ, độ ẩm, âm thanh,…) đảm bảo trong biên độ lý tưởng, giảm tối thiểu biến động theo thời gian và môi trường tác động. Theo Lê Hữu Hoàng và cộng sự (2016), điều kiện trong nhà yến phù hợp cho chim yến sinh sống là: nhiệt độ không khí nằm trong phạm vi 27-31oC; độ ẩm không khí từ 70-85%; ánh sáng thấp hơn 0,2 lux.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, có 3 quy trình vận hành nhà nuôi chim yến đang được áp dụng tại tỉnh Bình Thuận gồm: bán tự động, tự động và ứng dụng công nghệ kết nối vạn vật Internet of Things (IoT).

Quy trình vận hành nhà nuôi chim yến bán tự động thường bao gồm các hệ thống cơ bản của một mô hình gồm: hệ thống kiểm soát nhiệt độ - độ ẩm, hệ thống âm thanh và thiết bị hẹn giờ hoạt động (timer). Hệ thống kiểm soát nhiệt độ - độ ẩm theo quy trình này chỉ bao gồm các máy tạo ẩm hoạt động theo thời gian cài đặt, không có các đầu dò cảm biến (sensors). Thời gian hoạt động của máy tạo ẩm được cài đặt thông qua thiết bị hẹn giờ và tùy thuộc vào kinh nghiệm cá nhân của mỗi hộ dân.

Quy trình vận hành tự động sử dụng các đầu dò cảm biến kết nối với hệ thống điều khiện chế độ hoạt động của các thiết bị bên trong nhà nuôi chim yến như máy tạo ẩm, loa, amply,… Trong đó, máy tạo ẩm sẽ nhận tín hiệu từ các đầu dò cảm biến nhiệt độ, độ ẩm và hoạt động để giữ nhiệt độ, độ ẩm không khí trong khoảng cài đặt.

Quy trình vận hành ứng dụng công nghệ IoT hoạt động tương tự quy trình vận hành tự động kết hợp thêm khả năng kết nối, quản lý thiết bị từ xa qua ứng dụng trên điện thoại thông minh hoặc máy tính. Quy trình cũng sử dụng các đầu dò cảm biến kết nối với hệ thống điều khiện chế độ hoạt động của các thiết bị bên trong nhà nuôi chim yến như máy tạo ẩm, loa, amply,… Quá trình hoạt động, vận hành thiết bị có thể được theo dõi, điều chỉnh thông qua ứng dụng trên điện thoại thông minh, máy tính có kết nối internet.

Với các loại mô hình nhà yến trên tại tỉnh Bình Thuận, các cơ sở nuôi chim yến nên áp dụng quy trình vận hành tự động và dần ứng dụng công nghệ IoT để thuận tiện trong việc theo dõi, quản lý, nâng cao hiệu quả của mô hình vì những ưu điểm vượt trội của các quy trình này như:

- Thuận tiện, dễ dàng quản lý, theo dõi, vận hành các thiết bị trong nhà nuôi chim yến. Chủ nhà, kỹ thuật viên có thể theo dõi hoặc cài đặt thiết bị trong nhà yến từ xa mà không cần trực tiếp đến tận nơi;

- Các thông số nhiệt độ, độ ẩm bên trong nhà yến luôn được duy trì ổn định, trong khoảng phù hợp, không phụ thuộc vào kinh nghiệm cá nhân, không ảnh hưởng bởi sự thay đổi thời tiết;

- Thiết bị hoạt động hiệu quả hơn, giảm chi phí điện, nước,…;

- Chất lượng tổ yến được nâng cao nhờ kiểm soát tốt điều kiện nhiệt độ, độ ẩm bên trong nhà yến.

Nghề nuôi chim yến trong nhà đã và đang mang lại hiệu quả kinh tế cao cho nhiều người dân xây dựng thành công mô hình. Tuy nhiên, để mô hình nuôi chim yến thành công thì các chủ cơ sở nuôi chim yến, kỹ thuật viên cần hiểu rõ các hệ thống, thiết bị, kỹ thuật bên trong nhà yến để dẫn dụ chim yến về sinh sống và phát triển. Việc ứng dụng công nghệ cao sẽ giúp các mô hình quản lý và vận hành tốt hơn, hiệu quả hơn, từ đó giúp phát triển bền vững nghề nuôi chim yến tại tỉnh Bình Thuận nói riêng và cả nước nói chung.

Nhóm tác giả:

TS. Nguyễn Duy Tài - Viện KH&CN Việt Nam-Hàn Quốc

TS. Trần Tình - Trường Đại học Phan Thiết

ThS. Giang Sỹ Chung - Trường Đại học Phan Thiết

ThS. Đào Duy Minh - Trường Đại học Kinh tế - Đại học Huế

ThS. Nguyễn Thanh Phong - Học viện Nông nghiệp Việt Nam