Quy trình kỹ thuật trồng rừng xoan (NEEM) (8:20' 28/12/2009)

    Cây Neem (xoan chịu hạn) tên khoa học Azadirachta indica A. Juss, thuộc họ xoan (Meliaceae), có nguồn gốc từ Ấn Độ và chính tại đây cây neem được sử dụng rộng rãi nhất. Nó được trồng từ cực nam Karaia có dãy Hymalya, từ vùng nhiệt đới tới vùng cận nhiệt đới, vùng khô cằn tới vùng nhiệt đới, từ vùng gần mặt nước biển đến vùng có độ cao 700 m so với mặt nước biển.

    Neem được đưa đến Châu Phi hồi đầu thế kỷ này và hiện nay đã trồng ít nhất ở 30 quốc gia, đặc biệt những quốc gia trồng tại vùng ven phía Nam sa mạc Shahara, nơi mà nó trở thành một nguồn cung cấp chất đốt, gỗ và là thành phần không thể thiếu trong các hệ thống nông lâm kết hợp của các quốc gia này.

    Neem cũng được trồng ở Fiji, Mauritius, vùng vịnh Caribe và nhiều quốc gia khác ở Trung và Nam Mỹ.

    Cây neem được dẫn nhập vào nước ta năm 1981, nguồn giống được lấy từ Senegal và cũng trong năm này cây neem được gieo ươm và trồng đầu tiên ở Phan Thiết - Bình Thuận. Ba năm sau 1984, những cây neem đầu tiên ở Phan Thiết – Bình Thuận bắt đầu cho ra quả và được gieo ươm, đem trồng ở Tuy Phong. Năm 1995- 1996 tại Phước Dinh, Ninh Phước, Ninh Thuận tiến hành trồng thử nghiệm được 3 ha.

Hiện nay cây neem đang được trồng phổ biến tại 2 tỉnh Bình Thuận và Ninh Thuận.

    Cây neem được xem là cây trồng chủ lực và cùng trồng với keo lá tràm, nhằm mục đích chắn gió, chắn cát bay, và là rừng phòng hộ ven biển góp phần phủ xanh và cải tạo điều kiện môi trường khắc nghiệt nơi đây. Đồng thời là nơi cung cấp nguồn giống chủ yếu cho các khu vực lân cận.

 

I. ĐẶC ĐIỂM CHUNG:

    1/ Đặc điểm hình thái:

    - Neem là loài cây ưa sáng, mọc nhanh, chịu được khí hậu khắc nghiệt. Trong 5 năm đầu cây đạt chiều cao 10 – 15m, thân thẳng, tán lá dài rũ xuống.

    - Neem là loài cây có lá xanh quanh năm, có gỗ cứng hấp dẫn, lá cây chỉ rụng khi hạn hán khắc nghiệt.

    - Những cây thấp thường thường thân thẳng, có vỏ dày và xớ chắc chắn. Rễ cây ăn rất sâu vào đất và đặc biệt khi bị tổn hại, nó tạo ra những chồi bên cắm vào đất. Những chồi bên này đặc biệt có khuynh hướng được tạo ra rất nhiều trong những vùng đất khô.

    - Cây neem sau khi trồng khoảng 3 – 5 năm cây cho trái, những bông hoa nhỏ, lưỡng tính, màu trắng nở thành từng chùm ở những nách lá. Chúng có hương vị giống như mật và lôi cuốn được nhiều loài ong.

    - Trái neem hình bầu dục, dài gần 2cm và có một lớp cơm mềm bao quanh hạt. Khi chín có màu vàng hoặc vàng lục và cơm có vị ngọt, cho trái nhiều nhất khi cây đạt tuổi 10 và sản lượng quả mỗi năm từ 20 – 50 kg trái trên cây.

    - Hạt neem có vỏ cứng và nhân (thường có hai hoặc ba nhân), mỗi nhân nặng bằng khoảng nửa hạt neem. Nhân hạt chính là phần được sử dụng làm thuốc trừ sâu thông thường, hạt có nhiều dầu khó bảo quản.

    - Hạt để lấy làm giống nên chọn cây mẹ từ tuổi 6 trở lên.

    - Neem là loại cây có gỗ cứng, có thể cao đến 30m, vòng thân cây tới 2,5m, tán lá có thể trải rộng đến 10m.

    2/ Đặc điểm sinh thái:

    - Neem có thể sinh trưởng tại bất cứ nơi nào; ở đồng bằng, các xứ nhiệt đới đất không màu mỡ, đất pha cát… Có lượng mưa hàng năm từ 400 mm - 1200 mm thích hợp với thời tiết nóng, nhiệt độ có thể lên đến 50oC.

    - Không chịu mưa nhiều ngập nước, khí hậu quá lạnh kéo dài, tuy nhiên cây có thể mọc tốt ở độ cao từ mặt biển lên đến khoảng 1.000 m ở vùng gần xích đạo.

 

II. QUY TRÌNH KỸ THUẬT:

    1/ Mục tiêu:

    Trồng rừng xoan chịu hạn nhằm đáp ứng các mục tiêu sau:

    - Trồng rừng phòng hộ, chắn cát bay, chắn gió, cải tạo môi trường.

    - Trồng rừng cung cấp chế phẩm thuốc bảo vệ thực vật, cung cấp gỗ, củi và các sản phẩm công nghiệp.

    2/ Điều kiện gây trồng:

    a/ Điều kiện về đất:

    - Xoan chịu hạn sinh trưởng tốt trên các loại đất có thành phần cơ giới nhẹ, ẩm, thoát nước tốt.

    - Các loại đất có thành phần cơ giới nặng, thoát nước kém hay đất bí chặt không thích hợp cho việc trồng xoan.

    - Xoan chịu hạn sinh trưởng tốt trên các loại đất giàu dinh dưỡng.

    b/ Điều kiện về khí hậu:

    - Sinh trưởng tốt trong điều kiện nhiệt độ trung bình năm từ 24 – 30oC. Ở nơi có nhiệt độ trung bình tháng từ 20oC, cây neem sinh trưởng quanh năm.

    - Lượng mưa trung bình hàng năm từ 400 – 1.200 mm.

    - Độ ẩm không khí trên 60%.

    - Không chịu được nhiệt độ lạnh kéo dài.

    - Xoan chịu hạn trồng thuần loại hoặc hỗn giao với các loài cây khác như: các loài keo, muồng…..

    3/ Hạt giống:

    a/ Thu hái hạt giống trên cây mẹ đạt từ tuổi 5 trở lên, tán cân đối, có đường kính ngang ngực từ 20 – 30 cm, chiều cao cây từ 10 – 12 m, cây phát triển tốt,  không bị sâu bệnh hại.

    - Để đảm bảo về chất lượng, xuất xứ giống, việc thu hái hạt giống cần phải tuân thủ các nguyên tắc: cây mẹ lấy hạt giống được tuyển chọn từ những vườn giống hoặc những cây mẹ đầu dòng có xuất xứ rõ ràng.

    b/ Thời vụ thu hái chế biến và bảo quản:

    - Thời vụ thu hái: Mỗi năm có 2 vụ, vụ 1 bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 6, vụ 2 từ tháng 10 đến tháng 12.

    - Khi quả chín, màu quả chuyển từ màu xanh nhạt sang màu vàng, thịt quả mềm có mùi thơm và vị ngọt. Chỉ thu hái các quả có màu vàng còn ở trên cây.

    - Kỹ thuật thu hái: Hái quả bằng cách trèo trực tiếp lên cây hoặc dùng móc giật từng chùm quả chín. Đặc biệt không được hái quả còn xanh hay làm rụng cả chùm quả.

    - Chế biến: Quả đem về cho vào ủ thêm 24 giờ cho thịt quả mềm. Sau đó cho vào rổ chà nhẹ cho nát thịt quả và rửa sạch bằng nước nhiều lần. Khi hạt đã sạch, rải hạt ra rổ phơi chỗ râm mát. Tuyệt đối không được phơi hạt trực tiếp trên nền gạch hay xi măng, dưới ánh nắng trực xạ. Một 1 kg hạt giống tiêu chuẩn có từ 2.200 – 2.500 hạt. Tạo được 1.800 – 1.900 cây giống. Hạt giống đảm bảo độ thuần cao, tỉ lệ nẩy mầm 60%.

    - Bảo quản: Hạt chế biến xong nên sử dụng ngay. Nếu không sử dụng được ngay, thì thời gian bảo quản không được quá 30 ngày trong điều kiện bảo quản thông thường. Nếu là hạt mua phải có xuất xứ rõ ràng theo đúng quy định.

    4/ Xử lý hạt tạo nẩy mầm:

    - Hạt giống sau khi thu hái, bảo quản tối đa từ 2 – 3 tuần phải gieo ươm để bảo đảm tỉ lệ nẩy mầm.

    - Hạt được ngâm nước 2 sôi 3 lạnh trong 4 giờ, sau đem ủ, trong thời gian 2 – 3 ngày hạt sẽ nẩy mầm, những hạt nẩy mầm đem cấy vào bầu đã chuẩn bị sẳn, trong thời gian ủ phải cần rửa chua hạt ngày 1 lần.

    5/ Thời vụ gieo hạt:

    - Thời vụ gieo hạt phải căn cứ vào mùa vụ trồng rừng và tuổi cây xuất vườn, tiêu chuẩn cây trồng mà bố trí lượng hạt và lịch gieo ươm thích hợp.

    * Hỗn hợp ruột bầu:

    - Vị trí vườn ươm phải thoáng mát và ráo, không bị ngập úng về mùa mưa, mặt vườn tương đối bằng phẳng. Đất vườn ươm phải tiến hành xử lí các mầm mống sâu bệnh hại.

    - Tạo bầu: Vỏ bầu bằng chất dẻo PE ( ni long ) có đục lỗ tròn đường kính 6 mm ở bên hông, số lỗ đục từ 8 – 10 lỗ. Quy cách túi bầu: 15 x 20 cm; 13 x 18 cm  hoặc 10 x 16 cm. Hỗn hợp ruột bầu gồm:

    - Nơi vườn ươm có nền đất thịt:

          Đất thịt nhẹ 60%.

          Đất cát pha 30%.

          Phân chuồng hoai 10%.

    - Nơi vườn ươm có nền đất cát pha:

          Đất thịt nhẹ 30%.

Đất cát pha 60%.

Phân chuồng hoai 10%.

    - Sau đó trộn đều các thành phần trên vào bầu, rồi tiến hành xếp bầu vào luống ươm đã làm sẳn, chú ý bầu phải để sâu xuống dưới đất, mặt trên của bầu bằng với mặt đất tự nhiên nhằm để tưới nước và bảo quản bầu không bị hư.

    a/ Luống xếp bầu:

    - Làm luống xếp bầu theo qui cách dài 10 – 15 m, rộng 1m, rãnh luống rộng 0,2m (luống nổi hoặc luống bằng). Mật độ xếp bầu 100 bầu/m2. Sau khi xếp bầu phải chèn bầu và mặt luống phải bằng phẳng.

    b/ Kỹ thuật cấy cây và chăm sóc:

    - Trước khi cấy cây chúng ta tưới nước cho toàn bộ bầu ướt ẩm, sau đó dùng 1 chiếc que nhỏ, chọt 1 lỗ ở chính giữa bầu, khi đó ta đặt hạt giống đã nẩy mầm vào bầu và lấp nhẹ đất vào, cuối cùng ta tiến hành tưới nước lại 1 lần nữa.

    - Sau khi cấy cây khoảng 7 – 10 ngày tiến hành kiểm tra, cấy dặm vào những bầu có cây bị chết.

    - Sau khi cấy xong 45 ngày đầu, hàng ngày tưới nước 2 lần ( mỗi lần 15 lít/m2 đối với vườn ươm đất cát, 12 lít/m2 đối với đất thịt). Những ngày sau, ngày tưới 1 lần, lượng nước tưới 10 lít/m2. Trong các ngày mưa không cần tưới nước cho cây.

    - Làm cỏ quanh rãnh.

    - Làm cỏ kết hợp xới váng.

    - Đảo bầu, cắt rễ.

    - Tưới thúc phân NPK.

    c/ Tiêu chuẩn cây con xuất vườn:

    - Tuổi cây: 06 - 12 tháng tuổi ( kể từ ngày gieo hạt ).

    - Chiều cao cây : 30 – 50 cm.

    - Đường kính cổ rễ:  Trên 0,5 cm.

    - Cây sinh trưởng tốt, thân đứng, không cụt ngọn, không sâu bệnh.

    - Trước khi xuất vườn cần tưới nước 1 lần để đủ ẩm cho cây con dễ bứng, tránh vỡ bầu.

    - Ngoài ra, có thể tạo cây giống bằng phương pháp vô tính, hom rễ, cấy mô....

    d/ Thời gian ươm: Thời gian ươm cây trong vườn là 06 - 12 tháng. Trước khi trồng rừng 01 tháng, ta tiến hành đảo bầu 1 lần, khi đó mới tiến hành đưa cây đi trồng.

    - Bình quân 1 kg hạt giống có thể trồng 2 – 3 ha.

    e/ Phòng trừ bệnh hại:

    Trường hợp phát hiện nấm hại hoặc côn trùng phá hoại ở vườn ươm tiến hành bắt giết và phun thuốc phòng trừ với nồng độ thích hợp phun 2 lần mỗi lần cách nhau 5 ngày, phun vào buổi chiều mát.

 

III. TRỒNG RỪNG:

    1/ Chuẩn bị đất trồng rừng:

    * Xử lý thực bì:

    - Khả năng cạnh tranh của cây neem kém, nên phải xử lý thực bì toàn diện. Hoàn thành xử lý thực bì trước khi trồng 1 tháng.

    * Làm đất:

    Căn cứ vào điều kiện đất đai và mức độ thâm canh, tình hình xói mòn để lựa chọn cách làm đất thích hợp như:

    - Cày toàn diện với độ sâu lật đất 20 -  25 cm.

    - Cày theo băng với độ sâu lật đất 20 – 25 cm.

    - Sau khi cày đất xong tiến hành đào hố theo qui cách 40 x 40 x 40 cm. Công tác đào hố phải hoàn thành trước khi trồng 10 – 15 ngày để có điều kiện kiểm tra qui cách hố trồng.

    - Nơi có điều kiện nên bón lót mỗi hố từ 0,3 - 1 kg phân chuồng hoai hoặc 0,5 kg phân hữu cơ và trộn đều trước khi trồng.

    2/ Mật độ trồng rừng:

    - Phương thức trồng rừng: Trồng thuần loại hoặc hỗn giao.

    - Trồng thuần loại: Tùy theo mục đích canh tác và điều kiện đất đai mà bố trí mật độ trồng khác nhau.

    Thường trồng với mật độ 1.666 cây/ha ( hàng cách hàng 3m, cây cách cây 2m ) hoặc có thể trồng thưa hơn với các mật độ:

    + 625 cây/ha ( hàng cách hàng 4 m, cây cách cây 4 m ).

    + 833 cây/ha ( 4m x 3m ).

    + 1.100 cây/ha ( 3m x 3m ).

    - Trồng hỗn giao: Mật độ: 1.333 cây/ha ( hàng cách hàng 3m, cây cách cây  2,5m ) trong đó xoan chịu hạn 667 cây, còn 666 cây có thể trồng cây keo lá tràm hoặc keo lai; hoặc 1.250 cây/ha ( 4m x 2m ) trong đó xoan chịu hạn 625 cây/ha, cây điều 625 cây.

    3/ Thời vụ trồng:

    Căn cứ vào điều kiện thời tiết thuận lợi mà tiến hành trồng. Tuy nhiên thông thường:

    - Các huyện phía nam tỉnh trồng từ tháng 6 đến tháng 8.

    - Các huyện phía bắc tỉnh trồng từ tháng 7 đến tháng 9.

    4/ Bứng và vận chuyển cây con:

    - Khi bứng cây con và vận chuyển tránh va chạm mạnh, làm biến dạng hoặc vỡ bầu. Trồng đến đâu vận chuyển đến đó không được vận chuyển trước từ 2 đến 3 ngày trở lên.

    5/ Trồng cây:

    - Cho lớp đất mặt xuống đáy hố, nếu có bón lót phân chuồng hoai thì phải trộn đều trước khi trồng cây.

    - Cây trồng phải đặt ngay ngắn giữa hố. Sau đó dùng dao lam rạch một đường thẳng từ trên miệng túi bầu xuống đáy túi bầu, từ từ lột bỏ túi bầu PE ( tránh làm vỡ bầu đất ), dùng tay hoặc cuốc lấp đất lại và giẫm chặt xung quanh gốc. Chú ý không lấp đầy hố mà lấp đất cách miệng hố từ 3 – 5 cm để cây trồng tận dụng được nước mưa và mùn, nhưng vẫn không bị đọng nước sau mỗi trận mưa. Sau khi trồng cắm que dài 50 cm để tránh gió làm lung lay gốc.

    6/ Trồng dặm:

    - Sau khi trồng 2 – 3 tuần, tiến hành kiểm tra tỉ lệ sống, trồng dặm kịp thời những cây bị chết.

    - Để đảm bảo tỉ lệ cây sống cao và cây phát triển đồng đều, khi dặm phải tuyển chọn cây con có tiêu chuẩn tốt nhất và trồng vào những ngày có thời tiết thuận lợi nhất.

    7/ Chăm sóc sau khi trồng:

    Trồng rừng xong phải tiến hành chăm sóc, qua các giai đoạn sau:

    - Sau 2 – 3 tháng trồng tiến hành chăm sóc rừng.

    - Thao tác kỹ thuật: Làm cỏ xới quanh gốc đường kính 1 m. Cày giữa hai hàng cây, cày ranh bao ngạn, ranh lô ( nếu có ). Tùy theo mức độ thực bì có thể áp dụng kỹ thuật phát dọn thực bì trước khi cày. Bảo vệ chống cháy, chống trâu bò, người vào phá hoại.

    * Năm thứ nhất:

    - Tiến hành chăm sóc làm cỏ, kỹ thuật làm cỏ vun gốc, làm cỏ chung quanh gốc cây với đường kính 1 m và cuốc đất tơi xốp để phá hủy toàn bộ hệ thống mao quản nhằm hạn chế sự thoát nước bề mặt đất, sau đó vun gốc cho cây, vun cao từ 10 – 15 cm, vun gốc mục đích để giữ độ ẩm cho cây mùa nắng.

    - Tuỳ theo mức độ thực bì có thể áp dụng biện pháp kỹ thuật phát dọn thực bì trước khi cày, thực hiện 1 hoặc 2 lần trong năm.

    * Năm thứ hai:

    Như năm nhất nhưng không tiến hành trồng dặm, đồng thời bón phân NPK với định mức 0,2kg/cây, thời gian bón vào đầu mùa mưa khi đất đủ ẩm.

    * Năm thứ ba:

    Chăm sóc hai lần:  Đầu mùa mưa và cuối mùa mưa. Kỹ thuật chăm sóc; cày, làm cỏ, vun gốc và bón thúc phân NPK định mức 0,2kg/cây.

    Thường xuyên kiểm tra tình hình sâu bệnh, khi phát hiện cần báo cáo ngay cán bộ kỹ thuật để có biện pháp xử lý kịp thời.

    Ngoài ra, rừng trồng phải được niêm yết bảng cấm trâu, bò, người vào phá hoại, phải cử người bảo vệ. Rừng trồng phải có thiết kế băng cản lửa bề rộng từ 3 – 5 m, tổ chức lực lượng phòng, chống cháy rừng.

    8/ Tỉa thưa rừng trồng:

    - Sau 3 năm trồng có thể tiến hành tỉa thưa ( áp dụng theo qui trình nuôi dưỡng rừng trồng ).

 

IV. NEEM VÀ MÔI TRƯỜNG:

    - Ở Ấn Độ từ ngàn năm nay cây neem được trồng phổ biến làm cây chắn gió, chắn cát, cây cảnh quen đường phố, cây che bóng vì cây có thân thẳng, tán lá rũ xuống, không rụng lá theo mùa, xanh quanh năm. Chim chóc rất thích phần thịt có vị ngọt của quả neem bỏ lại hạt và vỏ đắng. Hầu hết những cây neem ở Ấn Độ đều lớn lên từ hạt do chim gieo rắc.

    - Trên 2.400 loài cây được tìm thấy có các thành phần khử được côn trùng, nhưng chỉ có neem là đáp ứng được khả năng tạo ra được một loại thuốc trừ sâu có hiệu quả cao, không độc tố, không gây hại môi trường và không gây thất thoát nông sản.

    - Neem là cây trồng tạo cảnh quan du lịch, là cây thân thiện môi trường.

 

V. CÔNG DỤNG TỪ CÂY NEEM:

    Neem là loài cây có tính hấp dẫn, một lần nữa cây neem là đề tài đang được quan tâm. Các nhà nghiên cứu đã tìm thấy rằng nó có thể dùng làm thuốc chữa bệnh cho con người, tái phủ xanh rừng núi, làm phân bón, thức ăn gia súc và thuốc trừ sâu.

    Neem là nguồn cung cấp chất diệt trừ vật gây hại bằng phương pháp sinh học có sẳn trong thiên nhiên. Chất chính có chứa nhiều trong hạt là Azadirachtin được dùng làm thuốc bảo vệ thực vật. Hoạt chất này tương đối an toàn trong sản xuất, người sử dụng và môi trường.

    - Hạt, lá và nhựa từ thân cây được dùng vào nông nghiệp và y học:

    * Vineem 1500EC là tên thương phẩm của một loại thuốc trừ sâu có nguồn gốc thảo mộc của Công ty CP Thuốc sát trùng Việt Nam (VIPESCO) với hoạt chất là Azadirachtin 0,15%.

    Vineem 1500EC là sản phẩm tự nhiên được chiết xuất từ nhân hạt neem có hiệu lực phòng trừ được nhiều loại sâu bệnh hại trên cây trồng như: lúa, rau màu, cây công nghiệp, cây ăn quả và cây cảnh.

    Theo các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước Vineem 1500EC có cách thức tác động như sau:

    + Gây sự ngán ăn

    + Tạo sự xua đuổi

    + Điều hòa sinh trưởng côn trùng

    + Ngăn cản sự đẻ trứng

    + Làm giảm khả năng sinh sản

    Đặc điểm nổi bậc của Vineem là không tạo nên tính kháng của dịch hại, không ảnh hưởng đến ký sinh và thiên địch, không để lại dư lượng thuốc trên cây trồng, không độc hại cho người phun xịt, gia súc, cá, ong mật và giun đất.

    Vineem 1500EC xứng đáng là một loại thuốc thân thiện với môi trường, thích hợp với chương trình quản lý địch hại tổng hợp là một giải pháp cho nông sản sạch.

    Có rất nhiều thành phần hoạt chất trong cây neem, tuy nhiên chỉ có vài hoạt chất là có tác dụng trừ sâu như: Azadirachtin từ A – L, Salannin, Nimbin, Nimbidin, Meliantriol…

    Trung tâm Nghiên cứu Nông dược – Vipesco đã thành công quy trình trích chiết Azadirachtin từ hạt neem giống Senegal trồng tại Ninh Thuận và cũng đã thử nghiệm trích chiết Azadirachtin từ hạt cây cóc kèn mọc ở đó.

    Mặc dù đã thành công và gia công sản xuất sản phẩm  Vineem 1500EC nhưng số lượng và giá cả hạt neem trồng tại Ninh Thuận chưa đáp ứng được nhu cầu về số lượng và giá cả nên hoạt chất Azadirachtin phải nhập từ Ấn Độ để sản xuất.

    Một triển vọng mới đã mở ra cho việc sản xuất hoạt chất Azadirachtin nếu số lượng có nhiều và giá cả phù hợp.

    Dầu Neem đã chứng minh có hiệu quả trong việc chống lại một số loài nấm có hại cho người: nấm chân (Trichophyton), các bệnh về da khác như hắc lào, ghẻ ngứa, lở loét… Lá sắc uống ngăn ngừa và trị bệnh sốt rét có tác dụng như ký sinh, giảm đau, hạ sốt…

    Gỗ xẻ: Gỗ Neem có đặc tính như gỗ gụ, khá nặng, dễ cưa xẻ và gia công, song phải được phơi khô cẩn thận vì thường hay bị nức và cong, dùng trong xây dựng rất tốt. Gỗ Neem khá bền ngay cả khi để ngoài trời, ít bị mối mọt.

    Vỏ cây Neem chứa 14% tanin, dùng làm thuộc da, vỏ cho ra sợi thô chắc buộc thành dây thừng.

    Hoa Neem dùng nuôi ong cho chất lượng mật cao.

    Trái neem có khả năng sinh ra khí mêtan (methane gas) và rất giàu carbohydrat được dùng nhiều trong công nghiệp lên men.

 

TTKNKNBT


Các tin tiếp
Kỹ thuật trồng cây trôm   (28/12/2009)
Quy trình kỹ thuật trồng rừng thâm canh cây keo lai   (28/12/2009)
Trang
1