Quy trình Kỹ thuật (tạm thời): Ứng dụng hệ thống thâm canh lúa cải tiến (SRI) ĐỐI VỚI LÚA CẤY (11:11' 8/4/2019)
Sở Nông nghiệp và PTNT đã ban hành QUY TRÌNH KỸ THUẬT (tạm thời) Ứng dụng hệ thống thâm canh lúa cải tiến (SRI) đối với lúa cấy tại Quyết định số 1241/QĐ-SNN ngày 19/12/2018.

QUY TRÌNH KỸ THUẬT (TẠM THỜI)

Ứng dụng hệ thống thâm canh lúa cải tiến (SRI) đối với lúa cấy

 (Kèm theo Quyết định số 1241/QĐ-SNN ngày 19/12 /2018 của Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Bình Thuận)

----*----

I. Bốn nguyên tắc của SRI áp dụng đối với lúa cấy

1. Mạ cấy: Cấy mạ non (chỉ có 2 lá - 2,5 lá đối với đất thường, 4 lá đối với đất phèn/ mặn); Mỗi khóm cấy từ 2-3 cây mạ, cấy thưa và cấy nông.

2. Quản lý nước: Tưới tiêu đảm bảo duy trì đất ruộng khô ướt xen kẽ 4-5 lần từ sau cấy 15 ngày đến lúa chín nhưng phải đảm bảo đất luôn đủ ẩm.

3. Phòng trừ cỏ dại kịp thời: ít nhất là 3 lần vào 10 - 12 ngày, 25 - 27 ngày và 40 - 42 ngày sau cấy. Không dùng thuốc trừ cỏ.

4. Bổ sung chất hữu cơ: Tăng cường phân bón hữu cơ, phân vi sinh để cải tạo độ phì của đất.

II. Những điểm bắt buộc phải thực hiện khi áp dụng kỹ thuật SRI

1. Làm đất: làm đất kỹ và tạo rãnh thoát nước chung xung quanh, san phẳng mặt ruộng trước khi cấy.

2. Gieo cấy:

-   Mạ gieo thưa với lượng giống 40 – 50 kg/ha, bứng mạ tránh làm đứt rễ mạ;

-   Cấy mạ non 2 - 2,5 lá, cấy 2-3 tép/khóm, cấy thưa, cấy nông tay để rễ mạ nhanh mọc.

3. Quản lý nước theo phương pháp nông - lộ - phơi (ướt, khô xen kẻ):

-   Rút cạn nước ruộng khi cấy;

-   Không giữ nước ngập mặt ruộng thường xuyên từ khi cấy đến hết giai đọan làm đòng, nhưng phải duy trì đủ ẩm cho đất;

-   Khi bón phân, đưa nước vào ruộng để phân dễ hòa tan, sau khi bón phân, để cho nước tự rút cạn mặt ruộng;

-   Nên giữ cho mặt ruộng “nẻ chân chim”;

-   Thiết kế ruộng ở chế độ tự thoát nước để sau mỗi khi mưa ruộng sẽ tự rút kiệt nước.

4. Phân bón:

-   Tăng cường bón phân hữu cơ hoai mục, phân vi sinh, giảm phân hóa học, đặc biệt là phân đạm;

-   Bón thúc đạm lần thứ nhất sau khi cấy 5 ngày.

5. Quản lý dịch hại theo phương pháp IPM

III. Kỹ thuật trồng và chăm sóc:

1. Giống: Giống lúa đảm bảo một số yêu cầu sau:

- Phải sử dụng giống lúa xác nhận;

-  Có tiềm năng năng suất cao;

-  Có thời gian sinh trưởng trung bình và ngắn ngày;

-  Ít nhiễm sâu bệnh;

-  Thích hợp với đặc điểm đất đai từng địa phương, từng mùa vụ cụ thể;

-  Phẩm chất gạo đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, phù hợp với nhu cầu thị trường;

-  Độ thuần, tạp chất và tỷ lệ nảy mầm: Áp dụng QCVN 01-54:2011/BNNPTNT, cụ thể: Đối với tiêu chuẩn cấp giống xác nhận: độ sạch (% khối lượng) >= 99%; hạt khác giống (%) <= 0,3%; hạt cỏ (số hạt/kg) <= 10 hạt; độ ẩm (%) <= 13,5%; tỷ lệ nảy nầm (%) >= 80%.

Lưu ý: Trên một cánh đồng nên bố trí 2-3 giống chủ lực, mỗi giống từ 25-30% tổng diện tích gieo trồng.

2. Lịch thời vụ:

Trên cơ sở hướng dẫn khung thời vụ chung của Sở Nông nghiệp và PTNT, tuỳ điều kiện cụ thể, địa phương bố trí thời vụ thích hợp với từng tiểu vùng. Cụ thể:

- Vụ Hè thu: nên gieo cấy đồng loạt, từ cuối tháng 4 đến tháng 6.

- Vụ Mùa: Lịch gieo cấy kết thúc cuối tháng 8 đầu tháng 9, nếu ruộng làm vụ đông xuân thì lịch gieo cấy kết thúc trung tuần tháng 8.

- Vụ Đông xuân: Tập trung kết thúc vụ gieo cấy từ cuối tháng 11 đến tháng 12, chậm nhất đầu tháng giêng năm sau. Nên sử dụng giống ngắn ngày để tránh hạn cuối vụ.

3. Kỹ thuật ngâm, ủ giống và làm mạ:

3.1. Chuẩn bị giống

- Lượng thóc giống 1 ha: 40-50 kg tùy kích thước và trọng lượng hạt giống.

- Sử dụng giống xác nhận đảm bảo độ thuần và tỷ lệ nảy mầm tốt.

3.2. Xử lý giống:

- Trước khi ngâm ủ, phơi hạt giống 1-2 nắng nhẹ (8-12 giờ), phơi xong đem hong nơi râm mát để nhiệt độ trở lại bình thường trước khi ngâm.

- Cho hạt giống vào nước đãi, loại bỏ các tạp chất, hạt lép, lửng.

- Sau đó, xử lý giống bằng nước vôi 2% ngâm hạt giống trong nước vôi trong khoảng 3 giờ (tỷ lệ: 1 phần giống/3 phần nước vôi trong). Sau đó vớt ra đãi sạch hoặc dùng các thuốc xử lý hạt giống trong danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng, cấm sử dụng tại Việt Nam được ban hành hằng năm (như: Cruiser 312.5FS, Vithoxam 350SC, Agrilife 100SL). 

- Xử lý giống bằng biện pháp ngâm với nước ấm khoảng 540C (2 sôi -3 lạnh) trong 2 giờ hoặc dùng các thuốc xử lý hạt giống (như Cruiser Plus 312.5FS).

3.3. Ngâm - ủ giống:

- Ngâm giống: Hạt giống sau khi đã được xử lý, đem ngâm vào nước sạch với tỷ lệ: 1 phần giống 3 phần nước, thời gian ngâm khoảng 24 giờ. Trong quá trình ngâm giống, cứ 6 giờ thay nước, rửa sạch nước chua một lần.

- Ủ giống: Sau khi ngâm, tiến hành vớt hạt giống ra, đãi sạch, để ráo nước rồi đem ủ ngay. Thời gian ủ trong khoảng 36-48 giờ, cứ 12 giờ tưới nước ấm và đảo giống 01 lần, khi rễ dài bằng hạt lúa, mầm bằng ½ hạt lúa thì tiến hành gieo mạ bằng tay. Nếu gieo mạ khay hạt lúa vừa nhú mầm là vừa.

3.4. Làm mạ:

Nên gieo theo phương pháp mạ sân hoặc mạ khay. Mạ khay ngoài cấy máy còn dùng để cấy tay cũng rất hiệu quả nhất là những vùng thiếu quỹ đất gieo mạ, vừa giảm diện tích gieo mạ, vừa dễ chăm sóc, thuận lợi che phủ khi trời rét đậm. Ngoài ra khay gieo mạ có thể tận dụng để  gieo cây con, bầu các loại cây rau màu khác.

3.4.1 Kỹ thuật làm mạ khay:

- Chuẩn bị khay: Khay gieo mạ là khay nhựa chuyên dụng. Máy cấy hiện nay mật độ trung bình 26 - 28 khóm/m2 thì cần khoảng 100 khay/sào.

- Chuẩn bị giá thể: Giá thể gieo mạ là đất bột trộn với mùn cưa với tỉ lệ 5 thúng đất bột + 2 thúng mùn cưa. Cứ 1000 kg giá thể bổ sung 15 kg supe lân + 2kg Ure + 2kg Kali, trộn đều. Cho lượng giá thể đã chuẩn bị sẵn vào khay, gạt phẳng với độ dầy 1,5 - 2cm. Lượng giá thể cho 1 sào dao động từ 70-80 kg.

- Gieo hạt:

+ Tiến hành gieo bằng tay hoặc máy chuyên dụng cho làm mạ khay, cần chú ý chia đều lượng giống cho các khay bằng cách dùng bát ăn cơm để đong lượng mộng mạ. Cứ 1,2kg giống sau ngâm chia đều cho 7 khay là vừa.

+ Xếp các khay thành hàng trên mặt sân, tưới thật đẫm nước rồi tiến hành gieo hạt, gieo đi gieo lại cho đều.

+ Gieo xong tưới nước lại một lần nữa rồi phủ kín hạt bằng lớp đất bột. Sau đó, có thể chồng các khay lên nhau và phủ nilon giữ ấm để giúp mạ nhanh mọc. Khi mạ mũi chông, rải các khay ra nền phẳng, chăm sóc như mạ nền cứng thông thường.

Chú ý: đối với mạ khay, sau khi phủ đất kín hạt, tuyệt đối không được tưới nước ngay, nước sẽ làm dí đất, cây mạ mọc chậm, sinh trưởng kém.

3.4.2 Gieo mạ tại ruộng

- Tận dụng tấm bao bì bao xi măng hoặc bao xác rắn, trải lên mặt ruộng (ở góc ruộng), phủ một lớp bùn đã trộn với phân, rồi gieo mạ giống như phương pháp thông thường. Khi bứng mạ tiến hành xúc mạ (không nhổ mạ) để cây mạ không bị đứt rễ. Sau khi bứng mạ phải cấy ngay trong ngày. Luống gieo mạ cần tạo điều kiện thoát nước khi có mưa. Cần liên tục duy trì độ ẩm của đất để các cây mạ sau khi nảy mầm thuận lợi để rễ cây phát triển mạnh.

- Lượng giống gieo: Mỗi mét vuông gieo từ nửa lạng đến 1 lạng hạt giống (50-100gr/m2) là tốt nhất.  Đối với 01 sào (1000m2) cần 0,5 - 1 kg hạt giống, gieo trên diện tích mạ từ 10 đến 15 m2.

4. Kỹ thuật làm đất

- Ruộng phải được cày ải sớm trước khi gieo 15-20 ngày để diệt cỏ dại, mầm sâu bệnh, tạo điều kiện khoáng hóa tốt để tăng cường dưỡng chất cung cấp cho cây phát triển thuận lợi ngay đầu vụ và giảm nhẹ lượng phân hóa học, nếu đất phèn nhiều cần bón vôi (300 – 1.000 kg vôi/ha) và cày cạn 5-10 cm, xới đất vừa phải;

- Ruộng phải cày bừa hoặc trục kỹ (ít nhất 2 lần);

- Trước khi cấy 3-4 ngày cần bón lót toàn bộ phân hữu cơ và phân lân, bừa lần cuối để chôn vùi phân trong đất;

- San phẳng mặt ruộng tránh đọng nước thành vũng để tưới tiêu thuận lợi;

- Đối với cấy bằng tay: Vét mương chia luống: mỗi luống rộng 2-3m, mương rộng 25cm và sâu 10 - 20cm, xung quanh ruộng tạo rãnh thoát nước chung và rút cạn nước trên ruộng trước khi cấy 1-2 ngày. Dùng vòng sắt để lăn trên mặt ruộng xác định điểm cấy mạ cho đúng khoảng cách.

- Đối với cấy bằng máy: Làm đất xong trước khi cấy từ 3-4 ngày, rút cạn nước  để đất sền sệt, cây mạ sẽ thẳng hàng và không bị nghiêng, đổ.

5. Kỹ thuật cấy:

Cấy 2-3 tép; cấy thưa; cấy vuông mắt sàng khoảng cách 20-25cm x 20-25cm; cấy nông tay, tránh làm đứt rễ mạ. Cấy mạ non 2 đến 2,5 lá là tốt nhất

6. Kỹ thuật sử dụng phân bón:

Tùy thuộc vào đặc điểm từng loại đất, mùa vụ và từng loại giống khác nhau mà thay đổi lượng phân bón cho phù hợp. Kỹ thuật bón phân có thể dựa vào bảng so màu lá lúa (xem phụ lục 2) hoặc dựa vào công thức khuyến cáo in trên vỏ bao.

6.1 Lượng phân bón khuyến cáo cho 1 ha

- Vôi: 250-1000 kg (tùy theo pH đất);

- Phân hữu cơ: 500 kg phân hữu cơ vi sinh hoặc 5-10 tấn phân chuồng hoai;

- Phân vô cơ :  Theo công thức phân chung: 

+ Vụ Đông xuân: 90 N- 70 P2O5 - 80 K2O

(Tương đương 195 kg urê; 430 kg super lân; 130 kg kaliclorua).

+ Vụ Hè thu và vụ Mùa: 80 N - 70 P2O5 - 80 K2O

(Tương đương 175 kg urê; 430 kg super lân; 130 kg kaliclorua).

Nếu sử dụng phân hỗn hợp NPK cần dựa vào lượng phân nguyên chất để tính lượng phân bón hợp lý tương ứng với công thức phân chung.

Lưu ý:

- Đối với các loại phân vi lượng, đa lượng khác, theo khuyến cáo riêng đối với giống, chân đất.

- Bón vôi: 

+ Rải đều vôi lên mặt đất sau đó tiến hành xới trộn lớp đất canh tác.

+ Sau 15 ngày, bón phân NPK sẽ cho hiệu quả cao.

+ Không nên bón vôi chung với phân chuồng, phân đạm, phân lân.

+ Lượng vôi theo bảng sau:

Đất có tỷ lệ sét cao (đất thịt nặng)

- pH từ 3,5 – 4,5: bón 2 tấn vôi/1ha

-pH từ 4,6 – 5,5: Bón 1 tấn vôi/1 ha

-pH từ 5,5 – 6,5: bón 0,5 tấn vôi/1 ha

* 2-3 năm bón 1 lần

Đất có tỷ lệ cát cao:

- pH từ 3,5 – 4,5: bón 1 tấn vôi/1ha

-pH từ 4,6 – 5,5: Bón 0,5 tấn vôi/1 ha

-pH từ 5,5 – 6,5: bón 0,25 tấn vôi/1 ha

* 1 năm bón 1 lần



6.2 Cách bón:

-  Bón lót: bón vôi (nếu có) trước khi cày vỡ, ngay trước khi cấy 2-3 ngày, bón toàn bộ lân và hữu cơ vi sinh, phân chuồng hoai, 1/3 đạm + ¼ kali.

- Bón thúc:

+  Thúc lần 1: Thúc đẻ nhánh (10-15 ngày sau cấy): 1/3 đạm + 1/4 kali

+  Thúc lần 2: Bón đón đòng trước trổ 20-22 ngày: 1/3 đạm + 2/4 kali

Bảng 1. Sử dụng phân bón cho lúa cấy

Loại phân, cách bón

Vụ Hè thu (kg/ha)

Vụ Đông xuân (kg/ha)

Thời điểm bón phân

Bón lót

Vôi

250 - 1000

250 - 1000

Trước khi cày vỡ

Phân hữu cơ

500

500

Trước khi bừa cuối

Lân nung chảy hoặc lân Super

430

430

Urea

60

65

Kali

30 - 35

30 - 35

Bón thúc 1

vụ Hè thu, vụ Mùa 10 – 15 ngày sau cấy

vụ Đông  xuân 15 - 20 ngày sau cấy

Urea

60

65

Kali

30 - 35

30 - 35

Bón thúc 2 (đón đòng)

Trước khi lúa trổ 20 - 22 ngày

Urea

40 - 60

50 - 65

Kali

60 - 70

60 - 70

Lưu ý:

- Bón thúc lần 1 phải đúng ngày, đúng kỹ thuật, không được chậm trễ, nếu bón rãi rác, bón muộn sẽ phát sinh nhiều chồi vô hiệu.

- Ruộng đất xấu, phèn nhiều, nên sử dụng lân nung chảy (lân Văn Điển hoặc lân Ninh Bình).

- Khi bón đón đòng chỉ bón đạm khi 2/3 ruộng lúa chuyển màu vàng chanh, nếu lá lúa màu xanh đậm chỉ bón kali.

7. Quản lý nước và thông khí định kỳ cho đất

Việc thông khí cho đất bằng cách làm khô đất, kết hợp xới xáo cho đất ở giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng có tác dụng thúc đẩy quá trình phát triển bộ rễ, và nhờ đó thúc đẩy sự phát triển và đẻ nhánh của cây lúa và cho năng suất lúa cao hơn. Cây lúa hô hấp qua hệ thống rễ. Trong điều kiện ngập nước thường xuyên, đất sinh ra các chất độc làm cho bộ rễ sẽ bị ảnh hưởng, các tế bào rễ biến dạng. Việc làm khô đất cho đến khi bề mặt đất bị nứt ra, nhờ đó, rễ cây sẽ phát triển sâu hơn xuống lòng đất.

Cần lưu ý: Không giữ nước ngập mặt ruộng thường xuyên từ khi cấy đến hết giai đọan làm đòng, nhưng, phải duy trì đủ ẩm cho đất (Nếu thấy trong rãnh luống có nước nghĩa là đất có đủ độ ẩm). Nên giữ cho mặt ruộng “nẻ chân chim”.

7.1. Quản lý nước giai đoạn từ cấy đến đứng cái

- Rút khô nước ruộng trước khi cấy.

- Tưới nước lần 1: sau khi cấy 1-2 ngày tiến hành đưa nước ngập mặt ruộng (1-2 cm) trong vòng 5-7 ngày.

- Khô lần 1: Sau đó duy trì mặt ruộng khô trong 5-7 ngày (nhưng phải đảm bảo đủ ẩm cho đất) cho đến lần tưới nước tiếp theo. Chú ý thu gom, diệt ốc bươu vàng.

- Tưới nước lần 2 - bón thúc 1: Sau cấy 10 – 15 ngày (vụ Hè thu, vụ Mùa), sau cấy 15 – 18 ngày (vụ Đông xuân) đưa nước ngập mặt ruộng và bón phân thúc lần 1 ngay, duy trì mức nước ruộng 2 - 3cm trong vòng 5 - 7 ngày liên tục sau khi bón phân, để phân bón hấp thu vào đất.

- Khô lần 2: Sau đó tiếp tục duy trì mặt ruộng khô nẻ chân chim (nhưng phải đảm bảo đủ ẩm cho đất) trong vòng 1 tuần.

- Tưới nước lần 3: Khoảng 5 - 7 ngày sau, cho nước vào và duy trì mức nước ruộng 3-5cm trong vòng 5-7 ngày liên tục.

-  Khô lần 3: Sau đó rút kiệt nước mặt ruộng (nhưng phải đảm bảo đủ ẩm cho đất) trong vòng 5-7 ngày.

7.2. Giai đoạn từ hình thành khối sơ khởi đến chín

- Tưới nước lần 4 - bón thúc 2: Vào giai đoạn lúa hình thành khối sơ khởi, khoảng 30 - 35 ngày sau cấy (vụ Hè thu), 35 - 37 ngày (vụ Đông xuân) duy trì mức nước ruộng 5-7cm trong vòng 10-15 ngày để lúa làm đòng xong.

- Khô lần 4: Khoảng 45-50 ngày sau cấy (trước khi lúa trổ 15 ngày), tiến hành rút nước để khô 5-7 ngày để hạn chế bệnh hại như bệnh khô vằn, thối bẹ.

- Tưới nước lần 5: Khoảng 50-55 ngày sau cấy, duy trì mức nước ruộng 5-7cm cho đến hết giai đoạn chín sữa.

- Khô lần 5: khi lúa chín sáp (10-15 ngày trước thu hoạch), rút cạn nước ruộng đến khi thu hoạch.

8. Kỹ thuật quản lý dịch hại:

Những lưu ý:

-   Không sử dụng thuốc BVTV hóa học cho sâu ăn lá, rầy giai đoạn từ sau cấy đến 20 ngày. Trường hợp đặc biệt cần phun, phải có hướng dẫn của cán bộ kỹ thuật BVTV. Các giai đoạn sau, chỉ sử dụng thuốc khi mật độ sâu cao có khả năng gây ảnh hưởng đến sinh trưởng và năng suất lúa.

-   Thuốc trừ cỏ ngoài tác dụng diệt cỏ, chúng cũng làm chậm quá trình sinh trưởng của lúa, vì vậy cũng cần hạn chế sử dụng thuốc cỏ (không sử dụng thuốc trừ cỏ hậu nảy mầm).

-   Hạn chế sử dụng thuốc trừ ốc bươu vàng, khi thật cần thiết sử dụng thuốc dẫn dụ trừ ốc, chỉ dùng thuốc này rải trên cạn ven bờ ruộng không rải trực tiếp xuống nước, hạn chế gây hại cho động vật thủy sinh.

-   Giai đoạn sau đứng cái (hình thành khối sơ khởi trở đi) tuyệt đối không bón đạm, phân bón lá khi lúa có màu xanh đậm.

-   Không bón phân thúc khi lúa đang nhiễm bệnh (đạo ôn, bệnh vi khuẩn…)

-   Dùng thuốc BVTV đặc hiệu theo hướng dẫn của chuyên môn; tuân thủ quy định về “Nguyên tắc 4 đúng trong sử dụng thuốc BVTV”, giảm nguy cơ do thuốc BVTV đối với người và môi trường.

8.1 Cỏ dại: Cỏ dại trong ruộng lúa sẽ cạnh tranh dinh dưỡng, ánh sáng, nước và là nơi trú ẩn của sâu bệnh hại, làm giảm năng suất và phẩm chất lúa.

-       Trên đồng ruộng có nhiều loài cỏ dại, có thể chia làm 3 nhóm :

+     Cỏ hòa bản: như cỏ lồng vực, cỏ đuôi phụng, cỏ mồm...

+     Cỏ lác:  như chác, cỏ cháo ...

+     Cỏ lá rộng:  rau bợ, cỏ xà bông

- Việc phòng trừ cỏ dại kịp thời và triệt để có vai trò quyết định trong việc đảm bảo cho cây lúa phát triển và cho năng suất cao. Cần tiến hành phòng trừ cỏ dại ít nhất là 3 lần vào 10 - 12 ngày, 25 - 27 ngày và 40 - 42 ngày sau khi cấy.

-   Làm cỏ lần một: (khoảng 10 ngày sau cấy đối với vụ Mùa/Hè Thu), hoặc khi bắt đầu thấy cây lúa có rễ trắng. Sục bùn hoặc xới xáo kỹ mặt ruộng kể cả khi chưa thấy cỏ mọc. Lần làm cỏ thứ nhất có vai trò rất quan trọng, nó quyết định tình trạng cỏ dại trong ruộng sau này. Sục bùn kỹ sẽ khống chế hạt cỏ nảy mầm hoặc làm kéo dài thời gian nảy mầm của hạt cỏ.

-   Các lần làm cỏ sau, cần kết hợp với xới xáo, sục bùn để thông khí cho đất.

-   Đối với cỏ lồng vực, phải cắt bỏ toàn bộ hoa cỏ trước khi hạt cỏ chín để ngăn ngừa cỏ tích lũy cho các vụ sau.

8.2 Ốc bươu vàng (OBV):

-       Thường xuyên thu gom ốc và ổ trứng trên đồng, ao hồ, kênh rạch công cộng trước và sau khi cấy để hạn chế mật số OBV.

-       Trước khi sạ/cấy, nên đánh rãnh trên ruộng và những chỗ có nhiều nước ốc sẽ tập trung, thuận tiện cho việc thu gom.

-       Dùng lưới chắn ốc ở đường nước chảy hay khi bơm.

-       Thả vịt vào ăn ốc nhỏ ở trước cấy và sau khi lúa lớn.

-       Cắm cọc nhử ốc đến đẻ rồi gom để diệt.

-       Chủ động quản lý nước làm giảm khả năng di chuyển của ốc.

-       Hạn chế diệt OBV bằng hóa chất vì rất dễ gây tác động xấu cho môi trường

8.3. Chuột

Tổ chức cộng đồng diệt chuột; dùng rào chắn nilon để ngăn chuột, dùng thuốc đặc hiệu diệt chuột theo hướng dẫn của cơ quan BVTV.

8.4. Sâu bệnh hại

-       Áp dụng các biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM),

-       Thường xuyên kiểm tra sâu bệnh trên đồng ruộng:

+     Từ khi mạ đến lúa đẻ nhánh: 3 ngày thăm đồng một lần để phát hiện sâu bệnh kịp thời.

+     Lúa từ đẻ nhánh đến chín: thăm đồng hằng ngày để phát hiện sâu bệnh kịp thời.

+     Muốn năng suất cao: phải giữ 3-4 lá trên cùng không bị sâu bệnh phá hại  (từ lúc lúa làm đòng cho đến lúc chín).

-       Khi áp lực sâu bệnh cao, có thể dùng biện pháp hóa học để phòng trừ.


PHỤ LỤC 1

16 ĐIỀU LƯU Ý KHI SẠ HÀNG

1. Chất lượng hạt giống tốt,  có độ nảy mầm > 90%.

2. Ngâm ủ đúng kỹ thuật, chỉ để cho hạt giống vừa nhú mầm, nhú rễ (nứt nanh trắng). Mầm có thể dài nhưng rễ ra dài sẽ quấn vào nhau dính chùm, không rơi từng hạt khi sạ hàng được. Đối với các giống lúa hạt nhỏ có thể ủ ra mộng ra dài hơn để lượng giống gieo rơi xuống ít (vì lỗ đục hiện nay có đường kính là 9 mm).

3. Khi hạt giống đã nứt nanh trắng mà vì lý do gì đất chưa chuẩn bị xong, cách hãm mầm và  rễ là: rãi mỏng hạt giống hong khô trong mát, cho đến 24 giờ sau mà đất vẫn chưa làm xong thì cần ngâm giống xuống nước trong 3 - 4 giờ, sau đó vớt lên lại rãi mỏng hong khô trong mát (lần 2) chờ đợi tiếp. Cho phép kéo dài  tối đa trong 3 ngày (72 giờ).

4. Trước khi đổ hạt giống vào các trống đựng giống, cần rãi mỏng hạt giống hong khô trong mát để cho ráo vỏ, các hạt giống không dính vào nhau thì gieo mới thuận lợi. Không được đổ đầy lúa giống vào trống, chỉ số 2/3 là vừa. (Nếu đổ đầy, hạt không lăn tròn trong trống để tự rơi xuống được). Khi trong trống còn 1/3 hạt nên đổ thêm giống vào đầy lại 2/3 để tránh tình trạng hạt rơi xuống nhiều hơn bình thường.

5. Chú ý lau khô tất cả các trống, nếu bị ướt hạt giống khó rơi ra đều. Khi ra ruộng cần mang theo một số nùi giẻ khô để lau khi trống bị ướt.

6. Khâu làm đất cần tiến hành cẩn thận (làm khá kỹ hơn bình thường nên vơ cỏ thật sạch) để ruộng có mặt bằng tốt và việc kéo máy dễ dàng, hạt lúa khi rơi vào trong đất có thể bám càng bám rễ dễ dàng và mọc thuận lợi.

7. Cần có hệ thống tưới tiêu hoàn chỉnh, chú ý chắt muội (vét nước) khá kỹ trước khi kéo máy.

8. Thời gian từ khi làm đất xong (bừa trục lần cuối cùng) đến khi kéo máy sạ hàng tùy thuộc vào độ lún của đất. Nếu ruộng là đất cát, phải kéo máy ngay sau khi làm đất xong (để lâu bị lắng chặt), nếu ruộng trũng, sình lầy nhiều có thể để vài giờ sau hoặc ngày hôm sau mới kéo máy ( thường gặp trong vụ đông xuân), thông thường vụ hè thu đất ít lún hơn nên có thể kéo máy ngay sau khi làm đất.

9. Sạ hạt giống thừa vào một góc ruộng để làm mạ cấy dặm sau này. Hoặc hãm giống như đã nêu trên để sạ dặm vào những chỗ lúa bị chết từ 1 - 3 ngày sau sạ.

10. Thao tác khi kéo máy: trước khi kéo máy phải làm động tác đẩy lùi (gặt mạnh một cái) rồi kéo tới hạt mới rơi ra. Nếu quên thực hiện động tác này thì 30 - 35 cm đầu tiên lượng hạt rơi ra rất ít hoặc không có hạt rơi.

11. Khuyến cáo nên bón lót phân lân: dạng nung chảy cho đất phèn (lân Văn Điển hoặc Ninh Bình)  hoặc dạng lân Super cho đất không bị phèn, nhằm cung cấp Lân ngay từ đầu và ém phèn, giúp bộ rể phát triển nhanh, khỏe mạnh.

12. Phòng trừ cỏ thật tốt: nên phun xịt 2 đợt: đợt đầu là chủ lực (nên sử dụng các loại thuốc tiền nảy mầm như: Sofit, Sirius, Star …), đợt kế là đợt xịt vét (những chổ cỏ chưa chết, những chổ gò cao, cỏ tái sinh mạnh...)

13. Khuyến cáo bón phân đợt 1 thật sớm (vì lúa sạ hàng rất thưa cây) từ 7 – 10 ngày sau sạ.

Ghi chú:

-       Nếu có bón lót đủ lân thì đợt 1 chỉ cần bón thêm Urê.

-       Nếu đất phèn nhiều thì bón 100kg DAP/ha cho đợt này.

-       Kali chỉ cần bón trên đất cát, đất xám, đất gò cao.

-       Có thể phun phân bón lá (các loại có chứa NPK + vi lượng như HVP 801S) để lúa sinh trưởng, phát triển nhanh, đẻ nhánh sớm và tập trung.

14. Nên tiến hành cấy dặm sớm: do có lót phân lân và bón đợt 1 thật sớm nên sẽ có mạ để dặm sớm lúa 12 – 18 ngày tuổi. Không chờ mạ quá già sẽ bất lợi, ruộng lâu kín hàng, cấy dặm quá muộn phát sinh chồi vô hiệu nhiều.

15. Bón phân đợt 2 sớm không chờ cấy dặm xong mới bón, cần bón đúng ngày quy định: 18 – 25 ngày sau sạ (bón trễ phát sinh nhiều chồi vô hiệu, lá ủ về sau sẽ rất nhiều). Lưu ý chừa lại phân đạm để bón vá áo (bón vào chổ lúa xấu, chỗ gò cao, chỗ cấy dặm).

16. Khi lúa đẻ kín hàng, có ít nhất 2/3 ruộng lúa chuyển sang màu vàng tranh (khoảng 35–45 ngày sau sạ) lúc đó mới lấy nước vào và bón phân đón đòng.
PHỤ LỤC 2

HƯỚNG DẪN BẢNG SO MÀU LÁ LÚA ĐỂ BÓN PHÂN ĐẠM

I. Các bước thực hiện khi dùng bảng so màu:

1. Bón lần một không dùng bảng so màu : (Tính đơn vị 1ha)

sau khi gieo sạ 7 – 10 ngày hoặc trước khi cấy, bón 40 – 65 kg urê + 20 – 40 kg KCl

2. Xác định đúng thời điểm bón phân lần 2 :

Lúc lúa 20 ngày sau khi gieo sạ hoặc 15 ngày sau cấy, bắt đầu tiến hành so màu lá lúa và sau đó cách 2 – 3 ngày so màu 1 lần để xác định đúng thời điểm bón phân đạm lúc lúa cần (theo bảng 3), kết hợp bón 20 – 40 kg KCl.

3. Xác định đúng thời điểm bón phân lần 3 :

Lúc lúa 35 ngày sau khi gieo sạ hoặc 30 ngày sau cấy tiến hành so màu lá lúa và sau đó cách 2 –3 ngày so 1 lần để xác định đúng thời điểm bón phân đạm cho lúa.

4. Các lần bón phân kế tiếp (nếu có):

Chỉ bón khi màu lá lúa có trị số đo từ 2 – 3 của bảng so màu.

II. Cách so màu ruộng lúa

- Nên so màu cùng thời gian (từ 8 – 10 giờ sáng hoặc 2 – 4 giờ chiều) khi đó lưng của người hướng về phía mặt trời để bóng người che cho lá lúa được so và chỉ 1 người so màu trong suốt vụ lúa.

- Chọn ngẫu nhiên ít nhất 20 lá lúa (lá cao nhất trong bụi lúa) từ 4 – 5 vị trí khác nhau trên ruộng. So màu bằng cách đặt phần của lá lúa ở khoảng cách 1/3 hoặc 2/5 từ chóp lá, lên từng khung màu trong bảng. Không được tách đôi và làm rách lá.

- Ghi nhận số khung màu của từng lá rồi tính trị số trung bình của 20 lá đã được so.

- Nếu trị số trung bình ở dưới khung màu chuẩn (khung 3 đối với lúa sạ) hay khung 4 (đối với lúa cấy) là lúc lúa thiếu đạm thì nên bón lượng đạm theo bảng hướng dẫn sau đây:

* Tùy theo đặc điểm thổ nhưỡng của từng địa phương mà thời điểm thực hiện việc so màu và bón phân lần 2; lần 3 có thể thực hiện sớm hoặc muộn hơn so với khuyến cáo.

Bảng 3: Lượng phân đạm cần bón theo khung màu chuẩn

 

Giai đoạn sinh trưởng

Hè Thu

Đông Xuân

Lúa cấy

15 – 20 NSC

30 – 35 NSC

40 – 50 kg urê/ha

40 kg urê/ha

50 – 65 kg urê/ha

50 kg urê/ha

Lúa sạ

18 – 25 NSG

35 – 40 NSG

40 – 50 kg urê/ha

40 kg urê/ha

50 – 65 kg urê/ha

50 kg urê/ha



Các tin tiếp
Quy trình Kỹ thuật (tạm thời): Ứng dụng hệ thống thâm canh lúa cải tiến (SRI) đối với lúa gieo sạ   (8/4/2019)
12 ĐIỂM CẦN CHÚ Ý ĐỂ GIEO TINH NHÂN TẠO HEO THÀNH CÔNG   (24/10/2018)
Quy trình kỹ thuật quản lý bệnh chết nhanh, chết chậm hại hồ tiêu   (31/8/2016)
QUY TRÌNH KỸ THUẬT QUẢN LÝ BỆNH ĐỐM NÂU HẠI THANH LONG   (31/8/2016)
QUY TRÌNH TẠM THỜI KỸ THUẬT TRỒNG, CHĂM SÓC CÂY TRÔM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH THUẬN   (23/12/2015)
QUY TRÌNH KỸ THUẬT TẠM THỜI THÂM CANH MÍA (Theo Quyết định số 383/QĐ-TT-CCN, ngày 27/8/2015 của Cục trưởng Cục Trồng trọt)   (10/9/2015)
TÓM TẮT QUY TRÌNH XỬ LÝ CÀNH, QUẢ THANH LONG BỊ BỆNH   (10/12/2014)
Trang
1